Luận án tiến sĩ nghi lễ lên đồng của người việt ở miền bắc việt nam và của người lào ở đông bắc thái lan

Luận án tiến sĩ phân tích nghi lễ lên đồng của người việt ở miền bắc việt nam và của người lào ở đông bắc thái lan, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri

Chuyên ngành

Dân tộc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2010

159
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Nghi lễ lên đồng của người Việt

2. CHƯƠNG 2: NGHI LỄ LÊN ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM

3. CHƯƠNG 3: NGHI LỄ LÊN ĐỒNG CỦA NGƯỜI LÀO Ở ĐÔNG BẮC THÁI LAN

4. CHƯƠNG 4: NGHI LỄ LÊN ĐỒNG TRONG ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG

5. CHƯƠNG 5: NGHI LỄ LÊN ĐỒNG VÀ XÃ HỘI ĐƯƠNG ĐẠI

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghi lễ lên đồng của người Việt và người Lào Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ lên đồng là một phần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian của cả người Việt và người LàoĐông Bắc Thái Lan. Đây là nghi thức tâm linh truyền thống, thể hiện sự giao hòa giữa con người với thần linh, hồn vía và các thế lực siêu nhiên. Ở Việt Nam, nghi lễ lên đồng gắn liền với đạo Mẫu Tứ Phủ, trong khi người Lào ở Đông Bắc Thái Lan thực hiện nghi lễ mo lăm phi phả hay còn gọi là hát ma trời. Cả hai nghi lễ đều có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh, chữa bệnh và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, mỗi dân tộc có những biểu tượng, nghi thức và cách thức tổ chức khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong văn hóa truyền thốngtín ngưỡng bản địa.

1.1. Khái quát về nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Nghi lễ lên đồng của người Việt chủ yếu thuộc dòng thờ Tứ Phủ hay đạo Mẫu, với các vị thần như Mẫu Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, các Quan, Chầu, , Cậu. Người lên đồng được gọi là đồng cốt hoặc bà đồng, là người được thần linh chọn qua hiện tượng ốp đồng hoặc có căn số. Nghi lễ bao gồm các bước như thỉnh mời thần linh, múa đồng, hát văn, và ban lộc. Đây không chỉ là nghi thức tâm linh mà còn là một hình thức diễn xướng văn hóa dân gian, có tác dụng trị liệu tinh thần và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.

1.2. Giới thiệu nghi lễ lên đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ lên đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan được gọi là mo lăm phi phả hay hát ma trời, là hình thức chữa bệnh dân gian thông qua việc mời ma trời hoặc phi then nhập vào người. Nghi lễ này thường diễn ra trong mùa lễ kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 dương lịch, với sự tham gia của các đồng thầy, nhạc công mo khen và cộng đồng. Nghi lễ có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự đoàn kết cộng đồng, giáo dục đạo đức và chữa trị bệnh tật theo quan niệm dân gian.

II. Những thách thức và vấn đề trong nghi lễ lên đồng của người Việt và người Lào Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ lên đồng dù có giá trị văn hóa và tâm linh sâu sắc nhưng cũng đối mặt với nhiều thách thức trong xã hội hiện đại. Ở Việt Nam, nghi lễ này từng bị xem là mê tín dị đoan, gây ra những hiểu lầm và phản ứng tiêu cực từ cộng đồng và chính quyền. Người lên đồng thường bị đánh giá không đúng, và các nghi thức như đội bát hương, hút sách, hay dùng bùa chú bị lên án. Ở Đông Bắc Thái Lan, nghi lễ mo lăm phi phả cũng gặp khó khăn do sự thay đổi xã hội, sự khan hiếm nhạc công và sự giảm sút trong việc duy trì truyền thống. Ngoài ra, sự đối lập giữa tư duy khoa học hiện đại và niềm tin dân gian cũng tạo ra những mâu thuẫn trong việc công nhận và bảo tồn nghi lễ này.

2.1. Vấn đề xã hội và pháp luật đối với nghi lễ lên đồng ở Việt Nam

Nghi lễ lên đồng ở Việt Nam từng bị coi là mê tín dị đoan, đặc biệt trong thời kỳ cấm đoán hoạt động tín ngưỡng dân gian. Việc sử dụng các hình thức như bùa chú, nước thải, hay việc tổ chức nghi lễ không đúng quy định pháp luật đã dẫn đến nhiều vụ việc tiêu cực. Tuy nhiên, với sự thay đổi nhận thức, nghi lễ lên đồng đang dần được nhìn nhận là một phần của di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn và phát huy.

2.2. Thách thức trong việc duy trì nghi lễ mo lăm phi phả của người Lào Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ mo lăm phi phả của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan đang đối mặt với sự suy giảm do nhiều nguyên nhân như sự thay đổi kinh tế xã hội, sự khan hiếm nhạc công mo khen, và sự giảm sút trong truyền dạy nghi lễ. Ngoài ra, sự phát triển của y học hiện đại và tư duy khoa học cũng làm giảm niềm tin vào các hình thức chữa bệnh dân gian, gây khó khăn cho việc duy trì nghi lễ truyền thống này.

III. Phương pháp và quy trình thực hiện nghi lễ lên đồng của người Việt và người Lào Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ lên đồng của người Việt và người Lào đều có quy trình nghi thức đặc thù, bao gồm các bước chuẩn bị, thỉnh mời thần linh, nhập đồng, múa hát và ban phát lộc. Người lên đồng phải chuẩn bị trang phục riêng biệt, lễ vật cúng tế và có sự hỗ trợ của các người hầu, cung văn hoặc nhạc công. Âm nhạc, đặc biệt là hát văn ở Việt Nam và tiếng khèn trong nghi lễ Lào, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo không khí linh thiêng và giúp người lên đồng nhập thần.

3.1. Quy trình nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ của người Việt

Nghi lễ bắt đầu bằng lễ dâng sớ và lễ cúng chúng sinh để thỉnh mời các vị thần linh. Người lên đồng mặc trang phục đặc trưng theo từng giá đồng như , Cậu, Quan, Chầu. Trong quá trình lên đồng, người lên đồng sẽ múa, hát văn và nhận lộc từ thần linh. Các người hầu và cung văn hỗ trợ trong việc thay đổi trang phục, dâng lễ và tạo không khí linh thiêng. Nghi lễ kết thúc bằng việc ban phát lộc cho người tham dự.

3.2. Phương pháp tổ chức nghi lễ mo lăm phi phả của người Lào Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ được tổ chức trong mùa lễ kéo dài, với sự tham gia của đồng thầy, nhạc công mo khen và cộng đồng. Người lên đồng được mời ma trời hoặc phi phả nhập vào để chữa bệnh và giải quyết các vấn đề tâm linh. Âm nhạc truyền thống với trống và khèn là yếu tố không thể thiếu. Nghi lễ còn bao gồm các hoạt động múa ma, lễ tạ ơn ma trời và sự đoàn kết cộng đồng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và vai trò của nghi lễ lên đồng trong đời sống cộng đồng người Việt và người Lào

Nghi lễ lên đồng không chỉ là nghi thức tâm linh mà còn có vai trò quan trọng trong việc chữa bệnh, giải tỏa tâm lý và duy trì sự gắn kết cộng đồng. Ở Việt Nam, nghi lễ giúp người lên đồng và cộng đồng cảm nhận được sự an ủi, niềm tin và sự hỗ trợ từ các vị thần linh. Ở Đông Bắc Thái Lan, nghi lễ mo lăm phi phả giúp người ốm có tinh thần chống chọi bệnh tật, đồng thời củng cố mối quan hệ xã hội và giáo dục đạo đức trong cộng đồng. Ngoài ra, nghi lễ còn góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và nghệ thuật dân gian đặc sắc.

4.1. Tác dụng trị liệu và tâm linh của nghi lễ lên đồng người Việt

Nghi lễ lên đồng được xem là một hình thức trị liệu tâm linh, giúp điều chỉnh các bất ổn tinh thần và thể chất. Qua việc nhập đồng, người lên đồng có thể giải tỏa căng thẳng, tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống. Âm nhạc và múa đồng góp phần tạo nên không gian chữa lành, đồng thời giúp cộng đồng duy trì niềm tin và sự gắn bó với truyền thống.

4.2. Vai trò văn hóa và xã hội của nghi lễ mo lăm phi phả người Lào Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ mo lăm phi phả không chỉ chữa bệnh mà còn là dịp để cộng đồng tụ họp, giao lưu và củng cố các mối quan hệ xã hội. Lễ tạ ơn ma trời và các hoạt động múa ma giúp duy trì truyền thống, giáo dục đạo đức và tạo sự đoàn kết trong cộng đồng. Nghi lễ còn là biểu tượng của sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên và thế giới siêu nhiên.

V. So sánh đặc điểm và khác biệt trong nghi lễ lên đồng của người Việt và người Lào Đông Bắc Thái Lan

Mặc dù cùng là nghi lễ lên đồng, nhưng nghi lễ của người Việt và người Lào ở Đông Bắc Thái Lan có nhiều điểm tương đồng và khác biệt. Cả hai đều dựa trên niềm tin vào thần linh, sử dụng âm nhạc và múa để tạo không gian linh thiêng. Tuy nhiên, nghi lễ người Việt gắn liền với hệ thống thần linh Tứ Phủ, có nhiều giá đồng và trang phục đa dạng. Trong khi đó, nghi lễ người Lào tập trung vào việc mời ma trời/phi phả nhập vào người để chữa bệnh, với âm nhạc chủ yếu là trống và khèn. Sự khác biệt này phản ánh sự đa dạng văn hóa và tín ngưỡng bản địa của mỗi dân tộc.

5.1. Điểm tương đồng trong nghi lễ lên đồng của người Việt và người Lào

Cả hai nghi lễ đều là hình thức nghi thức tâm linh, sử dụng sự nhập thần để giao tiếp với thế giới siêu nhiên. Âm nhạc và múa là yếu tố không thể thiếu, giúp người lên đồng nhập thần và tạo không khí linh thiêng. Nghi lễ còn có vai trò chữa bệnh, giải tỏa tâm lý và duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.

5.2. Khác biệt về nghi thức biểu tượng và tổ chức nghi lễ

Nghi lễ người Việt có hệ thống thần linh phong phú với nhiều giá đồng, trang phục đa dạng và nghi thức phức tạp như hát văn, múa đồng. Người Lào tập trung vào nghi lễ mo lăm phi phả với âm nhạc chủ yếu là trống và khèn, nghi lễ kéo dài trong mùa lễ và có tính cộng đồng cao. Sự khác biệt này phản ánh đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng và lịch sử phát triển riêng biệt của mỗi dân tộc.

VI. Kết luận và triển vọng phát triển nghi lễ lên đồng của người Việt và người Lào Đông Bắc Thái Lan

Nghi lễ lên đồng của người Việt và người LàoĐông Bắc Thái Lan là những di sản văn hóa tâm linh quý giá, phản ánh sự đa dạng và phong phú của tín ngưỡng dân gian. Dù đối mặt với nhiều thách thức từ xã hội hiện đại và tư duy khoa học, nghi lễ vẫn tồn tại và phát triển, góp phần duy trì bản sắc văn hóa và hỗ trợ trị liệu tâm linh cho cộng đồng. Việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy nghi lễ lên đồng cần được quan tâm hơn nữa, kết hợp giữa truyền thống và đổi mới để phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại.

6.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn nghi lễ lên đồng trong bối cảnh hiện đại

Bảo tồn nghi lễ lên đồng không chỉ giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống mà còn giúp cộng đồng duy trì niềm tin, sự gắn kết xã hội và hỗ trợ sức khỏe tinh thần. Việc công nhận nghi lễ như một di sản văn hóa phi vật thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và phát triển các hình thức biểu đạt văn hóa phù hợp với thời đại.

6.2. Triển vọng phát triển và ứng dụng nghi lễ lên đồng trong xã hội đương đại

Nghi lễ lên đồng có thể được phát triển thành các hoạt động văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, góp phần quảng bá văn hóa dân tộc. Đồng thời, kết hợp với các phương pháp trị liệu hiện đại để nâng cao hiệu quả chữa bệnh tâm linh. Việc đào tạo, truyền dạy nghi lễ cho thế hệ trẻ và xây dựng các chính sách hỗ trợ sẽ giúp nghi lễ lên đồng phát triển bền vững trong tương lai.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1 1.1 Nghi lễ lên đồng của người Việt Thực ra nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ của người Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu trong cũng như ngoài nước tiến hành nghiên cứu từ lâu với cách nhìn nhận khác nhau và đến nay với sự huyền bí ấy vẫn có không ít nhà nghiên cứu, già lẫn trẻ trong đó có tôi, cứ theo đuổi nghiên cứu đề tài này. 2 Tài liệu đầu tiên tôi tìm được dựa theo năm xuất bản từ xưa đến nay là của ông Phan Kế Bính. Trong cuốn sách Việt Nam phong tục (3) của ông, xuất bản đầu tiên năm 1915, có phần viết đến lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ. Theo ông những người lên đồng đó gọi là Đồng Cốt, thờ về Chư vị.

Những người thờ bà Liễu Hạnh công chúa, Thượng Ngàn công chúa gọi là đồng Đức mẹ, thờ các vị Hoàng Tử gọi là đồng Đức ông, thờ các vị Cậu gọi là đồng Cậu quận, thờ các Cô gọi là đồng Cô. Người nào Chư vị bắt đồng phải ngồi đồng hầu bóng thánh. Ngoài cung cấp thông tin tác giả còn có lời phê phán rằng những người tin vào Đồng Cốt là những người có lòng mê tín. Cuốn sách Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1) cũng có phần nói đến lên đồng.

Đó là, những người thờ Chư vị gọi là đồng cốt hay bà đồng. Đàn bà con gái xem bói hay nằm mộng thấy có số thờ phải đến làm lễ đội bát hương ở tĩnh hay phủ để xin làm con công đệ tử. Người bị các bà công chúa (con Ngọc Hoàng) bắt làm con đồng gọi là đồng Đức mẹ, con đồng các ông Hoàng tử gọi là đồng Đức ông, còn đồng Cậu quận và đồng Cô là con đồng của những vong hồn các con trai con gái nhỏ chết nhằm giờ thiêng. Trong hàng 1 Theo tài liệu, lên đồng của người Việt có hai dòng: (1) là dòng thờ Đức Thánh Trần và (2) dòng thờ Tứ Phủ hay thờ Mẫu.

Nhưng ở đây tôi chỉ đề cập đến lên đồng của dòng thờ Tứ Phủ mà thôi. 2 Khả năng tôi chỉ đọc được tài liệu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Thái Lan. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chư vị được nhân dân sùng bái hơn cả là thánh Liễu Hạnh. Mỗi năm cứ mùng 8 tháng 3 âm lịch là ngày vía Mẫu thời các bà đồng họp lại ở hội Phủ Dầy để lễ bái và lên đồng, tục gọi là hội Bà Cốt.

Ở hội ấy các bà đồng lại thi nhau và gieo âm dương xin thánh cử người trúng tuyển làm bà Đồng quan. Ông kết luận rằng chỉ là một mớ mê tín nhảm nhí. Cuốn sách Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên (11) có phần nói đến lên đồng như là một sinh hoạt đạo Lão dân gian Việt Nam, đó là việc thờ Chư vị. Chư vị là những thần linh nữ nam ở ba thế giới, Tam phủ: Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ.

Những người làm bà đồng là do Chư vị chọn , qua nằm mộng hay đột nhiên cảm thấy thần kinh bải hoải, chán công việc nội trợ và gầy đi. Thường thường, người ta trước hết làm thoả lòng Chư vị bằng cách đội bát hương, với sự giúp đỡ của người coi đền và một người cung văn. Bà ta ngồi thụp trước bàn thờ, trên đầu đặt một cái mâm hay một cái hộp sơn đựng những bát hương đầy tro, trong đó cắm những nén hương. Nếu việc đội bát hương không làm cho người ốm qua khỏi, buộc phải để người đó làm bà đồng.

Khi đã trở thành bà đồng thì phải đến bàn thờ lên đồng hầu Chư vị đều đặn, nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu nếu muốn được khoẻ mạnh và phát tài. Cuốn sách Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh (2) trong phần biến thể của đạo Lão cũng có nói đến Đồng Cốt. Đồng Cốt là những người có căn thờ về Chư vị như Liễu Hạnh công chúa, Cửu Thiên Huyền nữ, Thượng ngàn công chúa.hoặc các vị Hoàng tử, các cậu các cô. Đồng Cốt chia ra đồng Đức mẹ, đồng Đức ông, đồng cậu, đồng cô tùy theo người có căn thờ theo vị nào.

Có người có căn số thờ một vị, có người theo căn số phải thờ nhiều vị. Những người có căn số phải thờ là những bà cô hay đau yếu, nằm mơ thấy bay lên không lội dưới nước. Khi đi xem bói là được bảo có số thờ, thánh bắt đồng. Những người có số thờ phải đội bát phù hương xin làm con công đệ tử ở một cửa điện.

Có người chỉ phải đội bát phù hương, có người được Chư vị bắt đồng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thì phải ngồi bóng thánh. Những ngày rằm, mồng một, tuần tiết, hoặc khi có người nào đau yếu đến điện kêu cầu, đều có ngồi đồng hầu bóng. Cuốn sách Mê tín dị đoan-một tệ nạn xã hội cần xóa bỏ do Trương Thìn chủ biên (30) có nói đến lên đồng, là một hình thức biểu hiện tính chất cuồng tín, nhảm nhí nhất của mê tín dị đoan. Bọn làm nghề đồng bóng thường đánh vào tâm lý những người phụ nữ lạc hậu, kém hiểu biết, nhất là đánh vào tâm lý những người hay đau ốm hoặc con cái khó nuôi, hiếm muộn cho là mình cao số nặng, có số thờ, nên phải sắm lễ vật để đội bát nhang, ngồi đồng để được ngồi nghe thánh dạy hoặc để xin tàn nhang nước thải , bùa bèn giải vận hạn, trừ ma, trị bệnh v.

Đồng bóng đi liền với ăn uống, hút sách, với trưng diện khăn chầu áo ngự, với đàn ngọt hát hay của cung văn nên cũng là một hình thức khá hẫp dẫn đối với bọn ăn không ngồi rồi kiểu nhàn cư. Dùng âm nhạc, hát và múa vào đồng cốt chính là một thủ đoạn nhằm kích thích thần kinh, gây thêm không khí huyền ảo và tạo nên sự hấp dẫn để thu hút người mê tín, kể cả những người vốn trước đó còn chưa tin vào thần thánh. Trong một đám ngồi đồng có cung văn vừa đàn vừa hát, làn điệu và lời hát như vừa nịnh nọt vừa dỗ dành vừa nhún nhảy. Trong khi đó người ngồi đồng tự cảm thấy có thánh nhập vào cộng thêm mùi hương trầm quyện với mùi hoa thơm, đôi khi còn ngụm một chén rượu.

Đầu bỗng thấy nằng nặng. Rồi mê đi, những lời nói vu vơ như vừa ở thế giới vô hình nào hiện về. Thế là người xung quanh cho là thánh đã nhập vào người ngồi đồng. Lời nào cũng là lời thánh truyền, Mẫu dạy được những người mê tín vừa run sợ vừa tôn kính và nghe theo.

Thủ thuật duy nhất của tệ đồng bóng là triệt để tận dụng lòng mê tín của mọi người, dẫn họ đến cuồng tín. Những người có bệnh và gia đình họ một khi đã phải nhờ đến quyền uy của thần thánh thì trong lòng họ phải có một sự tôn kính thành tâm nhất định. Thế mà thánh truyền uống nước tàn hương nước thải, xoa quết 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trầu vào chỗ đau, dù bẩn thỉu thế nào họ cũng làm theo. Chính vì sự cuồng tín này mà không ít trường hợp đã dẫn đến hậu quả tai hại tiền mất tật mang.

Cuốn sách Hát Văn do GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên (37), dù tên sách mang nặng về âm nhạc nhưng trong đó phần nói về lên đồng lại đi song song với hát văn. Tác giả cho biết, nghi lễ lên đồng thường diễn ra nhiều dịp trong năm. Trước khi lên đồng, người lên đồng phải chọn ngày lành, báo trước chủ đồng đền, mời bạn bè, mời hai người hầu dâng, mời cung văn.

Ngoài ra phải chuẩn bị các lễ vật dâng cúng, phải sắm trang phục theo nguyên tắc là mỗi giá đồng phải có một trang phục riêng. Các bước tiến hành trong lên đồng là Thánh giáng và thánh thăng, thay lễ phục, thắp hương làm phép, múa đồng, ban lộc và nghe chầu văn, thánh thăng. Những vị thánh giáng đồng gồm các giá: thánh Mẫu, Quan, Chầu, Ông Hoàng, Cô, Cậu. Tác giả kết luận rằng từ góc độ Folklore, lên đồng là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể và là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng–văn hóa cộng đồng.

Cuốn sách Đạo Mẫu ở Việt Nam do GS. Ngô Đức Thịnh chủ biên (36). Về nội dung nghi lễ lên đồng trong cuốn sách này không khác nhau lắm với nội dung trong cuốn sách Hát Văn trước đây. Tuy nhiên, tác giả đã bổ sung thêm về sự phân tích khác nữa đó là, lên đồng là một hình thức diễn xướng dân gian và một loại hình sân khấu tâm linh.

Vì trong buổi hầu đồng còn có hình thức múa gọi là múa đồng. Múa có rất nhiều điệu múa và nhiều đồng tác khác nhau. Các điệu múa đó đã thể hiện sự tái sinh của các thần thánh. Cho nên với sự kết hợp giữa âm nhạc lời hát và điệu múa nó đã tạo nên một sân khấu tâm linh riêng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam.

Cuốn sách Tín ngưỡng thờ mẫu ở miền Trung Việt Nam do Nguyễn Hữu Thông chủ biên (38) cũng có phần nói về hiện tượng đồng bóng. Tác giả cho rằng, với sự khắt khe đối với phụ nữ của xã hội phong kiến xưa đã tạo cho hiện tượng đồng bóng phát triển. Đối tượng chính của nghi thức này là người phụ nữ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho nên việc tham gia của họ là để chuyện bức phá khỏi thế giới thực đã nhốt kín họ trong cuộc sống thường ngày. Mặc dù ban đầu tác giả lý giải hiện tượng đồng bóng với mặt tích cực của nó.

Tuy nhiên cũng có phần nói đến mặt tiêu cực đó là một số người lợi dụng thế lực của thần linh qua mối giao hòa bí ẩn giữa chủ đền-giá đồng-thần linh do họ dựng nên tạo ra những biểu hiện vi phạm pháp luật và ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống người khác như: việc lạm dụng đồ mã nhang đèn không đúng nơi quy định; hình thức chữa bệnh bằng các loại bùa chú, tàn nhang, nước thải; phải bỏ một số tiền quá lớn ngoài khả năng chi trả để mua sắm lễ vật tiến cúng. Cuốn luận án The Religion of The Four Palaces: Mediumship and Therapy in Viet Culture của Hien Thi Nguyen (88) là một tác phẩm nói đến tín ngưỡng Tứ Phủ và nghi lễ lên đồng rất đầy đủ và có hệ thống. Nội dung luận án đã đề cập đến hệ thống thần linh của tín ngưỡng Tứ Phủ, nghi lễ lên đồng, sự trở thành ông đồng bà đồng, đồ cúng lễ v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ