mở đầu, kết thúc, cũng không có thắt nút, mở nút kịch tính mà chỉ là dòng kể về cuộc sống đời thường với những sự việc bình thường, đơn giản. Từ chính những chuyện bình thường đó, ông đã khái quát thành những triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc, thấm thía. Ngoài ra, có thể kể tới kiểu kết cấu cốt truyện khác như kết cấu cốt truyện theo tâm lí, theo kiểu lắp ghép, đa tầng bậc, liên hoàn… 10 Kết cấu văn bản nghệ thuật được hiểu là sự tổ chức ở bình diện trần thuật, bao gồm: tổ chức bố cục và thành phần trần thuật, tổ chức điểm nhìn trần thuật. Các yếu tố thuộc cấp độ hình tượng và các yếu tố thuộc cấp độ văn bản được xếp đặt tương ứng tạo nên bố cục trần thuật.
Theo đó, mỗi thành phần sẽ tương ứng với một nội dung nhất định. Sự tổ chức, sắp xếp, phối hợp các thành phần trần thuật, các sự kiện, các phân đoạn tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm. Việc tổ chức điểm nhìn cũng đặc biệt quan trọng khi bàn về kết cấu, bởi điểm nhìn là góc độ, vị trí để từ đó người chuyện quan sát, phản ánh, đánh giá về các nhân vật và sự kiện trong tác phẩm. Việc phân loại, xem xét điểm nhìn có thể dựa theo bình diện không gian: xa, gần, cao, thấp,…; theo bình diện thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai; theo tâm lí, nội tâm: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài hoặc cũng có thể theo người kể chuyện hoặc nhân vật.
Kết cấu bề sâu được hiểu là quy tắc tổ chức những yếu tố bên trong tác phẩm. Đó là toàn bộ các quan niệm chi phối kết cấu bề mặt, tạo nên nội dung, ý nghĩa của thế giới hình tượng và văn bản nghệ thuật. Kết cấu bề sâu gắn liền với ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Trong truyện Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam, không chỉ có sự đối lập của ánh sáng và bóng tối nơi phố huyện nghèo mà đó còn là sự đối lập giữa thực tại quẩn quanh, bình lặng, tăm tối của những con người bé nhỏ, nghèo khổ, lầm than và lý tưởng, ước mơ khát vọng về một tương lai tươi sáng.
Qua đó, ta thấy được ánh sáng của hi vọng, của niềm lạc quan trong quan niệm của Thạch Lam gửi gắm trong từng trang viết. Quan niệm của mỗi nhà văn là khác nhau, nó phụ thuộc vào quan điểm triết học, mĩ học, thế giới, con người,… Chính vì vậy, trong quá tìm hiểu tác phẩm, để thấy được hết những giá trị, vẻ đẹp của tác phẩm, cần phát hiện và khám phá ra những tầng bậc thuộc “tảng băng chìm” của kết cấu bề sâu. Chức năng của kết cấu Kết cấu là là nguyên tắc tổ chức tác phẩm nhằm phục vụ mục đích nghệ thuật của tác giả. Theo đó, kết cấu có các vai trò, chức năng như sau: một là, kết cấu làm phương tiện khái quát hoá đời sống.
Quá trình vận động, tư duy sáng tạo của nhà văn được phản ánh ngay trong kết cấu: “Kết cấu biểu hiện tài năng sáng tạo của nhà văn thông qua sự hư cấu theo quy luật nội tại của nghệ thuật, được sự gợi ý từ quy luật vận động và phát triển của cuộc sống. Là sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo, kết cấu của một tác phẩm thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa lô-gích đời sống và chủ đích nghệ thuật của nhà văn” [48, 193]. Đi từ quy luật cuộc sống và khái quát thành quy luật nghệ thuật, kết cấu là sự tổ chức những hệ thống nhân vật, sự kiện, biến cố,… đều nằm trong sự liên hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau, nhằm tạo nên một chỉnh thể tác phẩm nghệ thuật thực thụ. 11 Kết cấu góp phần biểu hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm.
Đây cũng chính là chức năng quan trọng để đánh giá kết cấu của một tác phẩm. Kết cấu phản ánh quá trình nhà văn lựa chọn, sắp xếp các dữ kiện, chất liệu ngoài đời sống vào tác phẩm của mình để thể hiện tư tưởng nghệ thuật, quan điểm về đời sống hay khái quát chân lí sống. Trong tác phẩm Tắt đèn, nhà văn Ngô Tất Tố đã dồn nén hàng loạt các sự việc mâu thuẫn vào trong khoảng thời gian một ngày, với dung lượng chiếm tới 2/3 tác phẩm để thể hiện một cách tập trung nhất sự đối lập giữa nỗi đau khổ, cùng cực, điêu đứng của người nông dân với bản chất xâu xa, độc ác của bọn địa chủ. Với cách kết cấu cốt truyện chặt chẽ , tập trung và nhân vật đối lập như vậy, tác giả lên án tố cáo thực dân Pháp, cũng như bày tỏ niềm cảm thông, thương xót với những người nông dân nghèo khổ, vô tội, bị đẩy vào đường cùng.
Đây cũng chính là tư tưởng, chủ đề của tác phẩm mà kết cấu đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề đó. Kết cấu còn góp phần tạo nên giá trị thẩm mĩ và đem lại sức hấp dẫn cho hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm. Truyện Kiều – tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du chính là bản cáo trạng chân thực, phản ánh xã hội phong kiến lúc bầy giờ. Bên cạnh fđó, tác phẩm cũng cho thấy những giá trị nhân văn sâu sắc, cao cả thông qua kết cấu.
Kết cấu của tác phẩm này được xây dựng một cách chặt chẽ, từ tổ chức hệ thống các nhân vật, xây dựng cốt truyện, đặc biệt không thể không nhắc tới cách tổ chức, xây dựng, sáng tạo ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du. Chính những tác phẩm với kết cấu chặt chẽ, mang tư tưởng thông điệp cao đẹp của nhà văn như thế đã gieo vào lòng người đọc sức mạnh của tình yêu thương, sự bất diệt của những giá trị tốt đẹp. Kết cấu góp phần làm tăng giá trị thẩm mĩ, tính hấp dẫn cho tác phẩm là vì thế. Luis Sepúlveda và các tác phẩm viết cho thiếu nhi 1.
Hành trình sáng tác của Luis Sepúlveda Dựa vào các bài báo, tạp chí và các bài phỏng vấn tiếng Tây Ban Nha đối chiếu với các tài liệu tiếng Anh, chúng tôi tổng thuật lại hành trình sáng tác của nhà văn Luis Sepúlveda. Luis Sepúlveda (tên đầy đủ: Luis Sepúlveda Calfucura) sinh ngày 4/10/1949 tại thị trấn Ovalle, tỉnh Limarí, Chile. Cha ông là Đảng viên của Đảng Cộng sản Chile, mẹ là một y tá người Mapuche. Vào thời điểm mà ông ra đời, cha ông là một đầu bếp rất được săn đón và được thuê làm việc tại khách sạn Francisco De Aguirre tại La Serena.
Trong một bài phỏng vấn, Luis Sepúlveda cho biết rằng ông được sinh ra ở thị trấn Ovalle là một sự tình cờ. Mẹ ông đột ngột chuyển dạ trên đường đến La Serna, và ông được sinh ra trong khách sạn của một gia đình gốc Nam Tư. Luis Sepúlveda có cơ hội thừa hưởng một nền giáo dục tốt. Ông học tiểu học tại trường Francisco Andrés Olea ở Santiago và tốt nghiệp phổ thông tại Học viện Quốc gia.
Sau đó, Sepúlveda lựa chọn theo đuổi nghệ thuật và trở thành sinh viên ngành Nghệ thuật Sân khấu của trường Đại học Quốc gia Chile với định hướng trở thành một đạo 12 diễn. Về sau, ông cũng lấy bằng Khoa học Truyền thông tại Đại học Heidelberg tại Đức. Nhờ tài năng của mình, ông từng nhận được học bổng của Đại học Moscow để tiếp tục theo đuổi nghệ thuật, nhưng bởi các yếu tố chính trị nên ông không kéo dài việc học của mình tại Nga. Những lĩnh vực mà Luis Sepúlveda quan tâm không chỉ là văn chương - nghệ thuật ngôn từ - mà còn nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác.
Bên cạnh tư cách là một nhà văn, Luis Sepúlveda còn là một nhà báo, nhà soạn kịch, đạo diễn phim, nhà làm phim và là một người hoạt động chính trị tích cực. Sinh ra trong một gia đình Cộng sản, ông nối tiếp truyền thống từ cha và hoạt động chính trị vô cùng tích cực. Năm 1964, Luis Sepúlveda mười lăm tuổi, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Chile nhưng bị trục xuất vào năm 1968. Sau đó, ông được vận động và gia nhập Quân Giải phóng Dân tộc thuộc Đảng Cộng sản Chile.
Một trong những hoạt động chính trị đầu tiên của ông là lãnh đạo các phong trào sinh viên dưới chính quyền thời Salvador Allende trong phương diện văn hóa. Ông phụ trách xuất bản các tác phẩm kinh điển với giá rẻ để có thể tiếp cận được đến nhiều người hơn. Bước ngoặt của cuộc đời Luis Sepúlveda cũng là bước ngoặt về mặt chính trị của đất nước Chile. (Magnier Bernard, 1998) Năm 1973, Augusto Pinochet lãnh đạo cuộc đảo chính quân sự thành công, lật đổ Đảng Cộng sản và mở ra một chế độ mới kéo dài đến hết năm 1990.
Ông thuộc phe chống đối chế độ độc tài của Pinochet trong cuộc đảo chính, do đó mà bị giam giữ tại Trung đoàn Tucapel ở Temuco gần 3 năm. Nhờ vào nỗ lực của Tổ chức Ân xá Quốc tế tại Đức đối với các tù nhân chính trị, Luis Sepúlveda được thả, nhưng vẫn bị giam lỏng và chịu sự giám sát của chế độ Pinochet. Ông liên tục tìm cách bỏ trốn trong suốt một năm, đồng thời trong thời gian ấy thành lập nhóm kịch hoạt động tích cực để kháng chiến về mặt văn hóa. Chính vì điều ấy, Sepúlveda lại bị bắt và kết án tù chung thân vì tội phản quốc và âm mưu lật đổ chính quyền.
Phán quyết cuối cùng rút lại còn 28 năm tù. Một lần nữa, Tổ chức Ân xá Quốc tế tại Đức lại can thiệp, và án 28 tù giam của Luis Sepúlveda chuyển thành 8 năm lưu đày. Do đó, năm 1977, ông bị trục xuất khỏi đất nước Chile và bắt đầu hành trình chu du phiêu bạt khắp nơi trên thế giới. Điểm đến đầu tiên của ông là Buenos Aires - thủ đô Argentina, tiếp đến là thành phố Montevideo của Uruguay.
Bởi vì tình hình chính trị ở cả Argentina và Uruguay đều gặp phải tình trạng tương tự như Chile, cho nên ông lại tìm cách rời đi, đến São Paulo ở Brazil và băng qua Paraguay. Tuy nhiên, chính quyền địa phương gây sức ép khiến Luis Sepúlveda lại tiếp tục đi đến những đất nước khác; ông đi đến Bolivia, Peru và cuối cùng dừng chân tại thành phố Quito ở Ecuador. Ông làm việc ở Ecuador một thời gian, gặp gỡ những người da đỏ Shuar mà chính quá trình chung sống với họ để khiến Luis Sepúlveda nhận ra rằng không thể áp dụng những chính sách xã hội của chủ nghĩa Marx 13 mà ông biết trước đó lên những người dân da đỏ. Ông học được cách tôn trọng bản sắc văn hóa họ, và điều đó làm tiền đề cho các hoạt động liên quan đến môi trường và văn hóa của ông trong tương lai.