chương I và chương II tìm hiểu những khía cạnh riêng lẻ của diễn ngôn trần thuật thì ở chương này, tổng kết lại, đưa ra một cách nhìn khái quát, toàn diện về đặc điểm diễn ngôn trần thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái. DIỄN NGÔN NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI 1. Giới thuyết chung về người kể chuyện và diễn ngôn người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 1. Khái niệm người kể chuyện và diễn ngôn người kể chuyện Trần thuật học là một ngành nghiên cứu mới được định hình từ thập niên 60 của thế kỉ XX nhưng nó đã giải quyết rất nhiều những vấn đề then chốt của lí luận văn học mà hàng chục thế kỉ trôi qua chưa được làm sáng tỏ.
Ngoài nghiên cứu cấu trúc truyện kể, vấn đề điểm nhìn, ngôi, giọng điệu,… người kể chuyện là một trong những vấn đề mà trần thuật học không thể bỏ qua. Tìm hiểu người kể chuyện sẽ giúp người đọc hiểu được vai trò và chức năng của chủ thể trong tác phẩm tự sự và là cơ sở nền tảng để nắm bắt diễn ngôn của truyện kể. Khái niệm người kể chuyện Trong thi pháp văn xuôi hiện đại nói chung và lí thuyết trần thuật học nói riêng, chủ thể trong trần thuật là một vấn đề đang rất được quan tâm. Ngay thời kì đầu, khi mới bắt đầu nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan, Genette đã khẳng định: “Tôi cảm thấy truyện kể không có người kể chuyện, phát ngôn không có cách phát ngôn, đó là những ảo tưởng đơn thuần,… Đã có ai bác bỏ sự tồn tại của một ảo tưởng bao giờ chưa?… Truyện kể không có người kể chuyện của anh ta có thể tồn tại, nhưng đã từ bốn mươi bảy năm nay tôi đọc truyện, tôi chưa thấy loại truyện đó ở bất cứ đâu.
Vả lại, đáng tiếc là một điều khoản lịch thiệp đơn thuần, bởi vì nếu tôi gặp một truyện kể kiểu đó, tôi sẽ chạy mất dép: truyện kể hay không phải truyện kể, khi tôi mở một quyển sách, thì chính là để tác giả nói với tôi. Và khi tôi vẫn chưa điếc cũng chưa bị câm, thì tôi thậm chí phải trả lời anh ta” [68, tr. Sự kể chuyện ở đây có thể hiểu là kết quả hành động kể của hình tượng người kể chuyện. Sẽ không có câu chuyện, cốt truyện, hay nói khác đi, sẽ không có văn bản tự sự nếu không có người kể chuyện.
Về sau, vai trò này của người kể chuyện lại được Todorov khẳng định: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng… Không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện…” [53, tr. Nói như thế để thấy rằng, 15 nghiên cứu người kể chuyện là một trong những vấn đề cốt yếu khi tìm hiểu tác phẩm văn học theo lí thuyết văn học hiện đại nói chung và lí thuyết tự sự học nói riêng. Cho đến nay, khái niệm người kể chuyện “chưa được các nhà lí luận văn học thống nhất hoàn toàn” [54, tr. Tuy nhiên “qua các công trình của những nhà nghiên cứu thế hệ sau, kết hợp “phương pháp hình thức” với “mĩ học tiếp nhận” đã đưa ra được quan điểm tương đối rõ ràng về người kể chuyện” [53, tr.
Theo Pôxpêlôp, người kể chuyện là “người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả và người nghe (người đọc), là người chứng kiến và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [54, tr. Ở đây có thể thấy, Pôxpêlôp ngay từ đầu đã quan tâm đến chức năng của người kể chuyện. Người kể chuyện không chỉ mang tính hình thức (chỉ miêu tả) mà còn “cắt nghĩa”, lí giải các sự việc, qua đó giúp người nghe (người đọc) khám phá thế giới nghệ thuật, ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Kayser cũng đưa ra một cách hiểu về người kể chuyện.
Dưới con mắt của Kayser, người kể chuyện trong tác phẩm văn học mang tính cực kì hình thức. Ông không chú ý vào vai trò, chức năng của người kể chuyện mà đi vào lí giải sự tồn tại của nó. Nó chỉ là “một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học” [54, tr. Và trong nghệ thuật kể thì “người kể chuyện không bao giờ là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [54, tr.
Cách hiểu của Kayser về người kể chuyện còn nhiều thiếu sót. Cụ thể, người đọc khi đọc xong sẽ tự hỏi: Vậy nhân vật trong truyện kể có phải là một hình hài được sáng tạo ra và thuộc về chỉnh thể tác phẩm văn học hay không? Nó có phải là một vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận? Chắc chắn là có. Vậy điểm nào để phân biệt người kể chuyện và nhân vật? Về sau, nhà cấu trúc luận Todorov, với niềm say mê nghiên cứu, đã có đóng góp không nhỏ trong việc đưa ra một khái niệm về người kể chuyện. Ông không lí giải người kể chuyện mang tính hình thức như Kayser mà nhìn người kể chuyện như là một người định giá, và hơn hết, nó có vai trò lớn trong việc kiến tạo nên thế giới nghệ thuật: “Người kể chuyện là một nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu.
Chính người kể chuyện là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và định giá” [54, tr. 16 Quan điểm của Vinogrado cũng gần giống với quan điểm của Pôxpêlôp, song có đề cập đến vai trò của người kể chuyện. Với Vinogrado, một trong những yếu tố cấu thành nên truyện kể không thể không kể đến người kể chuyện: “Truyện, như một hình thức trần thuật của nghệ thuật văn chương, được thực hiện nhờ người kể chuyện trung gian giữa tác giả và thực tại được miêu tả” [53, tr. Lí thuyết tự sự học mãi đến những năm đầu của thế kỉ XX mới được giới nghiên cứu văn học trong nước quan tâm nghiên cứu.
Tiếp nhận thành tựu lí thuyết của những người đi trước, những nhà nghiên cứu, phê bình văn học nước ta cũng đưa ra quan điểm, cách nhìn của mình về người kể chuyện. Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa về người kể chuyện như sau: “Người kể chuyện là sản phẩm do tác giả tạo ra. Nó là kết quả của hành vi trần thuật của chính mình, là sản phẩm của bản thân mình và là một người trần thuật được trần thuật ra” [21, tr. Trần Đình Sử không rõ có bị ảnh hưởng bởi lí thuyết của Todorov hay không, nhưng trong bài “Tự sự học không ngừng nghiên cứu và phát triển” đã lí giải người kể chuyện như một người định giá, lí giải hiện thực: “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật.
Muốn hiểu biết được sự vật nào thì người ta kể câu chuyện về sự vật đó” [54, tr. Lê Ngọc Trà trong cuốn “Lí luận và văn học” đưa ra cách hiểu về người kể chuyện khá rõ ràng. Cụ thể là : “Người kể chuyện là chủ thể của lời kể, người đứng ra kể trong tác phẩm văn học, xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau” [71, tr. Ở đây người viết chưa chú ý nhiều đến vai trò, chức năng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, song lại có cách lí giải rất cụ thể mặt hình thức biểu hiện.
Nhà nghiên cứu đã đưa ra những tiêu chí cụ thể để người đọc khi tiếp xúc với một tác phẩm văn học có thể nhận diện ra người kể chuyện. Ngoài ra, Đỗ Hải Phong trong bài nghiên cứu “Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại”, “Người kể chuyện - Nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự” của Nguyễn Thị Hải Phương, cũng đưa ra một số quan niệm của mình về vấn đề này trên bình diện chức năng và hình thức. 17 Với tất cả những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi, bước đầu có thể đưa ra một cách hiểu về người kể chuyện như sau: Người kể chuyện là người được tác giả sáng tạo, hư cấu ra để mang lời kể. Nó thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học.
Bởi vậy, nó thể hiện những quan điểm, thái độ của tác giả đối với câu chuyện được kể lại. Tuy nhiên người kể chuyện đồng nhất chứ không thống nhất với tác giả. Bởi suy cho cùng, người kể chuyện là kết quả sáng tạo của nhà văn, nên những tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của người kể chuyện chỉ là một phần tư tưởng, tình cảm của tác giả. Và bởi lí thuyết văn học hiện đại, không đóng khung tác phẩm trong khuôn khổ của nó, mà mở rộng ra trong mối quan hệ nhà văn - tác phẩm - người đọc, nên người đọc có thể tiếp nhận và khám phá tác phẩm theo chiều tiếp nhận của bản thân.
Người kể chuyện có vai trò đem lại cho tác phẩm một cái nhìn, một sự đánh giá, bổ sung về mặt tâm lí, lập trường văn học cho cái nhìn của tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống thêm phong phú, nhiều phối cảnh. Bên cạnh đó nó còn giúp người đọc nhận thức được quá trình “cá thể hóa và cá nhân hóa trong sáng tạo văn học của nhà văn trong tác phẩm văn học, đồng thời thể hiện ý thức nghệ thuật của nhà văn trong tác phẩm” [71, tr. Người kể chuyện có chức năng tổ chức, kết cấu lại tác phẩm và dẫn dắt người đọc tiếp cận và khám phá thế giới nghệ thuật. Khái niệm diễn ngôn người kể chuyện Trần thuật học ra đời như một kết quả tất yếu khi mà chủ nghĩa cấu trúc và mĩ học tiếp nhận bộc lộ những cực đoan, hệ hình.
Các nhà trần thuật học “không vứt bỏ bản thân khái niệm “cấu trúc bề sâu”, mà theo họ, vốn là cơ sở của mọi tác phẩm nghệ thuật, nhưng họ chủ yếu nhấn mạnh vào quá trình thực hiện cấu trúc ấy trong “tương quan đối thoại” tích cực của nhà văn và độc giả” [48, tr. Có hai khuynh hướng trong quá trình nghiên cứu lí luận trần thuật. Khuynh hướng thứ nhất chủ yếu nghiên cứu các cấp độ trần thuật. Các học giả nghiên cứu theo khuynh hướng này “mong muốn qua toàn bộ hàng đống chuyện kể có trên đời tìm ra một mô hình trần thuật duy nhất, cái mô hình hoàn toàn hình thức, tức là một cấu trúc hoặc một ngữ pháp kể truyện, trên cơ sở đó mỗi truyện kể cụ thể sẽ được khảo sát bằng các thuật 18 ngữ của sự lệch lạc so với cái nền móng cấu trúc chiều sâu này” [48, tr.
Khuynh hướng thứ hai là nghiên cứu các cấp độ diễn ngôn.