CHƯƠNG 1: VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT CẮT GIẤY DÂN GIAN TRUNG QUỐC 1. Khái niệm Theo cách nói của Lý Hồng Quân: “Cắt giấy, theo nghĩa rộng, là tạo hình đục rỗng trên chất liệu mỏng, bằng dao hoặc kéo; với sự phát triển của chất liệu hiện đại thì khái niệm có phần được mở rộng. Còn cắt giấy theo nghĩa hẹp là nghệ thuật tạo hình dùng dao trổ hoặc kéo cắt đục lỗ trên giấy”.1 Cắt giấy là một trong những loại hình nghệ thuật dân gian thịnh hành ở Trung Quốc. Theo khảo chứng, từ thời nhà Thương (khoảng từ năm 1600 đến 1100 trước công nguyên) đã có người dùng các lá vàng bạc, da, sản phẩm dệt, sau đó đục rỗng để làm đồ trang sức.
Theo truyền thuyết sau khi Lý Thị một sủng phi của Hán Vũ Đế qua đời, Hán Vũ Đế thương nhớ vô cùng ăn không ngon, ngủ không yên, do đó ông đã mời pháp sư dùng giấy cắt thành hình ảnh của Lý Phi dùng rồi nó để chiêu hồn, có lẽ đó là tác phẩm cắt giấy đầu tiên. Năm 105 sau công nguyên, Thái Luân cải tiến kinh nghiệm của người thời trước bắt đầu mở rộng sản xuất giấy với số lượng nhiều, hình thức trổ chạm hoa lá, chim muông này tìm thấy nguồn nguyên vật liệu phổ biến rộng rãi này do đó mà nghệ thuật cắt giấy ra đời, tính từ đó tới nay thì cũng đã có lịch sử cách nay gần 2000 năm. Tác phẩm cắt giấy được sử dụng trong các nghi thức tôn giáo, trong trang trí và trong phương diện tạo hình nghệ thuật. Cắt giấy thường lợi dụng các hiện tượng như: hài âm trong tiếng Hán, tượng trưng, ngụ ý, khái quát những hình ảnh tự nhiên thành những bức tranh tuyệt đẹp.
Ngày xưa người ta còn dùng tranh cắt giấy làm mô hình cho nghệ thuật thêu thùa, phun sơn. Nghệ thuật cắt giấy dân gian là một ngành nghệ thuật có phong cách đặc biệt, một loại tranh được cắt ra từ giấy, được tạo thành từ sự khéo léo của đôi bàn tay, lại được trang trí thêm những màu sắc tươi sáng, bắt mắt. Người dân lao động thôn quê lấy nó làm đồ trang trí nhà cửa vào ngày lễ tết, đem những 1 Lý Duy Côn (2004), Trung Quốc nhất tuyệt, 360. Nxb Văn hoá thông tin 10 bức tranh cắt xong dán trên mi cửa ra vào, cửa sổ, trên bàn, trên tủ, trên tường, trên cột nhà, thậm chí được dùng làm những vật trang trí trên những lễ vật…, để thể hiện những vui buồn, những cảm xúc trong cuộc sống thực hàng ngày vì thế còn được gọi là “tiễn họa” hay “song hoa”.
Cắt giấy còn được gọi là “song hoa” là bởi vì nó là hình thức phổ biến nhất và gắn bó với môn nghệ thuật này ngay từ khi mới ra đời. Là một loại hình nghệ thuật dân gian của Trung Quốc, đất nước đã phát minh ra giấy. Chỉ cần nghe hai từ cắt giấy có lẽ chúng ta cũng có thể hình dung được phần nào về môn nghệ thuật này. Đó là dùng kéo, dùng giấy, lấy kéo cắt ra hình dạng của những thứ trong suy nghĩ như chim chóc, hoa lá, cây cỏ, con người, thần linh, núi sông… Cắt giấy không phải là sản phẩm của máy móc mà là của nghệ thuật thủ công tạo thành, có hai phương pháp phổ biến là dùng kéo cắt và dùng dao cắt.
Dùng kéo cắt là cách cắt nhờ vào việc mượn lực của cây kéo, sau khi cắt xong, đem những tờ giấy (thông thường không vượt quá 8 tờ) dán lại, cuối cùng dùng mũi kéo nhọn tiến hành gia công. Cắt bằng dao thì khác, ban đầu sẽ xếp các tờ giấy chồng lên nhau, sau đó dùng dao khắc xuống các tờ giấy theo một hình dạng nhất định theo ý của nghệ nhân. So về ưu điểm của dùng dao so với kéo thì có lẽ đó là một lần có thể cắt được nhiều bức giống nhau. Những nội dung mà song hoa truyền thống thể hiện, chủ yếu có các nhân vật trong các vở kịch, hoa lá, cây cỏ chim muông, cùng với một vài biểu tượng cát tường có tính hài âm, tràn trề tình cảm vui tươi, khỏe mạnh và tình yêu cuộc sống.
Nguồn gốc Nghệ thuật cắt giấy dân gian Trung Quốc xuất hiện vào khoảng thời gian từ triều đại nhà Hán tới thời Nam Bắc triều, nhưng phát triển cực thịnh và đỉnh cao có lẽ phải từ sau thời nhà Thanh trở đi. Cắt giấy vốn có nguồn gốc từ thôn quê, ngày xưa chủ yếu là lấy dao khắc thành, ý nghĩa đơn giản, chân thật, gần gũi, đều được tạo ra từ bàn tay của những người phụ nữ lao động nông thôn. Sau khi nghệ thuật cắt giấy đi vào thành thị rồi thì không chỉ suy nghĩ, tâm tư 11 tình cảm của những người thành thị cũng đi vào trong nó, nhà nhà người người đều có nhu cầu dùng các sản phẩm cắt giấy, mọi người hỗ trợ nhau cắt giấy, cần một số lượng lớn. Để tiết kiệm công sức và thời gian một dao cắt được nhiều tờ cùng một lúc, khắc giấy trở thành phương pháp tạo tranh chính, phong cách cũng trở nên tinh xảo hơn, những nghệ nhân cũng không còn chỉ là phụ nữ và trẻ em nữa.
Nhưng cùng với thời gian, cuộc sống thay đổi và quan niệm thẩm mỹ cũng không ngừng thay đổi, nghệ thuật dân gian đó đã có những giai đoạn không phù hợp với cuộc sống thực tại và phải trở lại vào giai đoạn thai nghén. Cắt, khắc, xé có nguồn gốc từ rất lâu đời, nhưng có lẽ cắt giấy chỉ có thể thực sự ra đời khi việc phát minh ra giấy xuất hiện và giấy được sản xuất, được chế tạo. Tuy nhiên do giấy là vật liệu vốn đã khó bảo quản lại thêm nó chủ yếu được dán ở những nơi chịu nhiều tác động của nắng gió mà những sản phẩm cắt giấy để lại làm cơ sở cho chúng ta tìm hiểu về nó gần như là không có. Theo nghĩa rộng cũng như là nghĩa hẹp ta biết được rằng cắt giấy trong đó có sử dụng kéo và giấy.
Vậy thì có thể chắc chắn một điều rằng việc ra đời của nghệ thuật cắt giấy không thể nào tách khỏi sự ra đời của chúng. Do đó chúng ta hãy tìm hiểu lịch sử ra đời và phát triển của kéo. Hình 1, hình 2: Kéo thời Đường [ Image.com] Kéo tiếng Hán là “剪”, có phiên âm là jian, trong tiếng Hán nói chung chữ được hình thành ban đầu đa số đều dựa trên ý nghĩa tượng hình, trong chữ kéo thì ý nghĩa tượng hình được thấy rõ đó là trước dao còn có một con dao. Theo 12 di vật mà các nhà khảo cổ tìm được ra thì chiếc kéo đầu tiên tính tới thời điểm hiện tại là chiếc kéo được tìm thấy ở Lạc Dương trong mộ cổ thời Tây Hán, cách đây đã hơn hai nghìn một trăm năm.
Chiếc kéo được tìm thấy có hình dáng rất đơn xơ, được làm bằng đồng thau, kéo dài chỉ khoảng 20cm, không có trục đỡ, trục đối xứng giữa hai gọng kéo, thanh đồng được tán mỏng và mài sắc hai đầu thành hai lưỡi kéo, sau đó được uốn thành hình số 8 cho hai lưỡi kéo nằm đối xứng về hai phía, với độ mềm dẻo của đồng thì khi không sử dụng lưỡi kéo sẽ mở ra tự nhiên còn khi dùng thì chỉ cần bấm làm cho hai nửa số 8 chạm sát vào nhau như vậy là đã có thể cắt, xét về nguyên tắc hoạt động thì nó khá giống với chiếc nhíp ngày nay, ngoài ra thì còn khai quật được kéo thời Chiến Quốc. Kéo thời Đường cũng vẫn có hình dạng tương tự. Giấy là một trong tứ đại phát minh lớn của khoa học Trung Quốc cổ đại, việc chế tạo ra giấy thành công đã giúp văn minh Trung Hoa cũng như văn minh nhân loại chuyển sang một thời kì văn hóa mới, thúc đẩy văn minh loài người lên một tầm cao mới. Theo sử sách ghi chép lại thì Thái Luân đã dùng vỏ cây, sợi đay, vải cũ, lưới đánh cá cũ để tạo ra giấy; vào thời Đông Hán, hoàng đế Lưu Triệu, giấy do Thái Luân chế tạo ra được dùng nhiều trong cung đình.
Ở Trung Quốc mỗi một nghề đều có tổ nghề và Thái Luân được những người trong lĩnh vực làm giấy tôn làm ông tổ của nghề làm giấy. Năm 1957 người ta cũng đã phát hiện ra những mảnh giấy điệp nhỏ khi khai quật mộ cổ ở Tây An, Thiểm Tây. Từ những tài liệu khảo cổ còn thu nhặt được với các ghi chép về lịch sử, chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng giấy ra đời trễ nhất vào thời nhà Hán. Nếu căn cứ theo định nghĩa hẹp về cắt giấy thì đúng ra là cắt giấy phải xuất hiện khi đã xuất hiện kéo và giấy.
Thế nhưng chúng ta biết rằng cắt giấy theo nghĩa rộng thì không phải vật liệu dùng để cắt đầu tiên không phải là giấy mà là các vật liệu mỏng và công cụ dùng để cắt đầu tiên cũng không phải là kéo mà là dao. Từ xa xưa con người đã biết khắc hình, chạm trổ lên các vật liệu như gỗ, đá…để tạo hình, tạo dáng cho đồ vật. Từ trên những vách đá trong hang động của con ngời thời xưa từ thời kỳ còn ăn lông ở lỗ tới các sản phẩm bằng gốm 13 của nhà Thương đều lưu lại những đường nét của loại hình nghệ thuật này. Về phương pháp tạo hình và thủ pháp nghệ thuật thì hoàn toàn không có gì khác biệt giữa việc khắc trên vật liệu mỏng và khắc trên vật liệu cứng.
Điều này chứng tỏ rằng mầm mống của nghệ thuật cắt giấy dân gian là bắt đầu từ việc chạm, khắc trên các vật liệu cứng như gỗ, đá, gốm… Trong sách Sử Kí - Tấn Thế Gia (史记 – 晋世家) đã có ghi Thành Vương chơi đùa cùng Thúc Ngu, gọt lá cây ngô đồng thành sao khuê, việc gọt thì cũng không thể nào là dùng kéo mà là dùng dao, điều này đã cho ta thấy rằng việc cắt và khắc lúc đó không dùng giấy mà dùng lá cây ngô đồng. Còn trong triều đại nhà Hán, các phi tử thường hay bế con ra ngoài hoa viên dạo chơi, khi đứa bé khóc, họ thường nhặt những lá cây ngô đồng rồi xé thành những hình dạng khác nhau làm thành đồ chơi cho đứa bé chơi, đứa bé tỏ ra thích thú vô cùng với những hình xé đó. Vậy tại sao cây ngô đồng lại có liên quan tới việc xé lá này mà không phải là một loại lá nào khác, phải chăng vì lá cây ngô đồng lớn nên người ta có thể thỏa sức mà xé theo trí tưởng tượng của mình.