Thầy người gìn giữ chú ngữ trong đời sống tâm linh của đồng bào người nùng ở thị trấn liên nghĩa huyện đức trọng tỉnh lâm đồng công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trườn

Nghiên cứu vai trò của thầy trong việc gìn giữ chú ngữ và ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người Nùng tại Liên Nghĩa, Đức Trọng.

Chuyên ngành

Trung Quốc học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

công trình nghiên cứu khoa học

2015

85
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghề Thầy và Chú Ngữ trong Đời Sống Tâm Linh

Nghề Thầy và hệ thống chú ngữ đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Nùng ở Lâm Đồng. Nghề Thầy không chỉ là một nghề mà còn là một phần không thể thiếu trong văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng này. Chú ngữ được sử dụng trong các nghi lễ, thể hiện sự kết nối giữa con người và thế giới tâm linh. Qua đó, nghề Thầy giúp duy trì và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của người Nùng.

1.1. Định nghĩa Nghề Thầy và Chú Ngữ

Nghề Thầy được hiểu là những người có khả năng thực hiện các nghi lễ tâm linh, sử dụng chú ngữ để giao tiếp với các vị thần linh. Chú ngữ là những câu từ, âm thanh mang ý nghĩa tâm linh, được truyền lại qua nhiều thế hệ.

1.2. Vai trò của Nghề Thầy trong Đời Sống Tâm Linh

Nghề Thầy không chỉ giúp người Nùng thực hiện các nghi lễ mà còn là cầu nối giữa con người và tổ tiên. Thầy là người giữ gìn các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng.

II. Thách thức trong việc gìn giữ Nghề Thầy và Chú Ngữ

Trong bối cảnh hiện đại, nghề Thầy và chú ngữ đang đối mặt với nhiều thách thức. Sự phát triển của xã hội và sự thay đổi trong lối sống đã làm giảm đi sự quan tâm của thế hệ trẻ đối với nghề này. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ mai một các giá trị văn hóa truyền thống.

2.1. Sự thay đổi trong nhận thức của thế hệ trẻ

Thế hệ trẻ ngày nay có xu hướng tiếp cận với các giá trị văn hóa hiện đại, dẫn đến sự giảm sút trong việc thực hành các nghi lễ truyền thống.

2.2. Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến văn hóa địa phương

Toàn cầu hóa mang đến nhiều ảnh hưởng tích cực nhưng cũng làm cho các giá trị văn hóa địa phương, như nghề Thầy và chú ngữ, bị lu mờ.

III. Phương pháp gìn giữ và phát huy Nghề Thầy và Chú Ngữ

Để bảo tồn nghề Thầy và chú ngữ, cần có những phương pháp hiệu quả. Việc giáo dục và truyền bá kiến thức về nghề Thầy cho thế hệ trẻ là rất quan trọng. Các hoạt động văn hóa, lễ hội cũng cần được tổ chức thường xuyên để nâng cao nhận thức cộng đồng.

3.1. Giáo dục và truyền bá kiến thức

Cần có các chương trình giáo dục về văn hóa và tín ngưỡng của người Nùng, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về nghề Thầy và chú ngữ.

3.2. Tổ chức các hoạt động văn hóa

Các lễ hội truyền thống nên được tổ chức định kỳ để tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia và thực hành các nghi lễ, từ đó gìn giữ các giá trị văn hóa.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Nghề Thầy và Chú Ngữ trong đời sống

Nghề Thầy và chú ngữ không chỉ có giá trị tâm linh mà còn có ứng dụng thực tiễn trong đời sống hàng ngày của người Nùng. Chúng giúp duy trì sự ổn định tinh thần và tạo ra sự gắn kết trong cộng đồng.

4.1. Tác động đến đời sống tinh thần

Nghề Thầy và chú ngữ giúp người Nùng cảm thấy an tâm hơn trong cuộc sống, tạo ra sự kết nối với tổ tiên và các thế lực tâm linh.

4.2. Gắn kết cộng đồng qua các nghi lễ

Các nghi lễ do Thầy thực hiện không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để cộng đồng tụ họp, gắn kết và chia sẻ những giá trị văn hóa.

V. Kết luận về tương lai của Nghề Thầy và Chú Ngữ

Nghề Thầy và chú ngữ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Nùng. Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này, cần có sự chung tay của cả cộng đồng và các cơ quan chức năng. Tương lai của nghề Thầy phụ thuộc vào sự quan tâm và nỗ lực gìn giữ từ thế hệ hiện tại.

5.1. Tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa

Bảo tồn nghề Thầy và chú ngữ không chỉ là trách nhiệm của cá nhân mà còn là nhiệm vụ của toàn xã hội.

5.2. Hướng đi cho tương lai

Cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích việc thực hành nghề Thầy, từ đó tạo điều kiện cho nghề này phát triển bền vững.

15/07/2025
Thầy người gìn giữ chú ngữ trong đời sống tâm linh của đồng bào người nùng ở thị trấn liên nghĩa huyện đức trọng tỉnh lâm đồng công trình nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trườn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về đồng bào dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Trong chƣơng này, nhóm tác giả giới thiệu đến ngƣời đọc vài nét về vùng đất Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Trên cơ sở đó, cung cấp cho ngƣời đọc một cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành dân tộc Nùng tại Việt Nam nói chung và cộng đồng ngƣời Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng nói riêng, cũng nhƣ những nét sơ lƣợc về văn hóa của đồng bào ngƣời Nùng ở đây. Chương 2: Đặc điểm của “thầy” trong đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Chƣơng này định hƣớng cho ngƣời đọc một khái niệm cụ thể về nghề “thầy” cũng nhƣ hệ thống chú ngữ của đồng bào ngƣời Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Song song đó, nhóm tác giả cũng đƣa ra những nhận định về tầm quan trọng của “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào ngƣời Nùng ở đây thông qua quá trình khảo sát điền dã. Chương 3: Vai trò của “thầy” trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Nội dung chƣơng này chủ yếu đề cập đến những nhận định của nhóm tác giả về vai trò của “thầy” trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa.

Đồng thời, nhóm tác giả cũng đƣa ra một số quan điểm về thực trạng cũng nhƣ giải pháp trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của chú ngữ trong đời sống tâm linh của đồng bào ngƣời Nùng ở đây. 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỒNG BÀO NGƢỜI NÙNG Ở THỊ TRẤN LIÊN NGHĨA, HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG Tộc ngƣời Nùng là một dân tộc có dân số tƣơng đối đông và đã xuất hiện rất lâu trên lãnh thổ Việt Nam. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, ngƣời Nùng ở Việt Nam có số dân chiếm hàng thứ 7 với 968.800 ngƣời và có mặt gần nhƣ hầu hết ở 63 tỉnh thành trong cả nƣớc nhƣ: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Hà Giang, Đắk Lắk, Lào Cai, Lâm Đồng, Bình Phƣớc,. Trong đó, cộng đồng ngƣời Nùng hình thành tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng là cộng đồng ngƣời hình thành khá muộn.

Những điều kiện khách quan tại địa bàn cƣ trú này cũng góp phần hình thành nên những đặc trƣng cho cộng đồng ngƣời Nùng tại đây. Vài nét về Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Đức Trọng là huyện nằm ở vùng giữa của Lâm Đồng – tỉnh miền núi phía nam Tây Nguyên, có độ cao từ 600 m – 1000 m so với mực nƣớc biển. Huyện có diện tích tự nhiên 90.180 ha, chiếm 9,23 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh Lâm Đồng, dân số đứng thứ nhì sau Thành phố Đà Lạt. Phía bắc giáp Thành phố Đà Lạt, phía nam giáp huyện Di Linh và tỉnh Bình Thuận, phía đông giáp huyện Đơn Dƣơng, phía tây giáp huyện Lâm Hà, Đức Trọng có 15 đơn vị hành chính bao gồm 1 Thị trấn Liên Nghĩa và 14 xã: Hiệp An, Hiệp Thạnh, Liên Hiệp, Phú Hội, Tân Hội, Tân Thành, N’Thol Hạ, Bình Thạnh, Ninh Gia, Tà Hine, Ninh Loan, Đà Loan, Tà Năng, Đa Quyn.

Trung tâm huyện cách Thành phố Đà Lạt 26 km về hƣớng nam. Nằm ở vị trí đầu mối giao thông đi Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuột, Phan Rang, nên Đức Trọng có điều kiện thuận lợi cho mở rộng giao lƣu với bên ngoài, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hƣớng ngoại với cả 3 thế mạnh: nông, lâm nghiệp – công nghiệp – dịch vụ. Là thị trấn duy nhất tại huyện Đức Trọng, Liên Nghĩa có vị trí địa lý cách trung tâm Thành phố Đà Lạt 30 km về phía đông nam, diện tích của thị trấn là 7 km2, chiếm khoảng 0,8 % diện tích của toàn huyện Đức Trọng. Phía đông thị trấn giáp với xã Tu Tra của huyện Đơn Dƣơng, phía tây giáp với xã N’thoi Hạ và xã Tân Hội, phía nam giáp với xã Phú Hội và xã Tân Hội, phía bắc giáp với xã Liên Hiệp và xã Hiệp Thạnh.

8 Hiện nay, Thị trấn Liên Nghĩa có tổng cộng 12 khu phố: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 11, 12, có hai trục đƣờng giao thông chính đi qua là Quốc lộ 20 nối Thành phố Hồ Chí Minh với Đà Lạt, Quốc lộ 27 nối Đắk Lắk với Ninh Thuận rất thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa và giao lƣu kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội cho toàn huyện với vùng lân cận. Bản đồ huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (Nguồn: Internet) Huyện Đức Trọng có 3 dạng địa hình chính là núi dốc, đồi thấp và thung lũng ven sông. Đây cũng là vùng đất tiếp giáp giữa cao nguyên Lang Biang và cao nguyên Di Linh. Trong đó, Thị trấn Liên Nghĩa nằm trên đồi đất đỏ bazan với tầng phủ dày 2 m – 7 m, bên dƣới là sạn kết, nền đá gốc ở tầng sâu 15 m – 20 m, cƣờng độ chịu nén tốt.

Tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn là 3770.7 ha, chiếm khoảng 4 % diện tích đất tự nhiên của huyện1. Đất đai tại thị trấn chủ yếu là đất nâu hình thành trên cơ sở đất bazan, có độ dày trên 100 cm, độ phì nhiêu của đất khá cao, độ PH từ 5 – 6,5. Nơi đây chủ yếu có thành phần cơ giới từ đất thịt trung bình đến thịt nặng, rất phù hợp để phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày. 2 1 Nguồn: Phòng Dân tộc - Ủy ban nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, 2014.

2 Đại học Đà Lạt, Khoa Đông phƣơng học, Đào Thị Hằng, Tìm hiểu người Thổ ở Thị trấn Liên Nghĩa – Đức Trọng – Lâm Đồng, 2010. 9 Huyện Đức Trọng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhƣng do ở độ cao trên 900 m nên khí hậu có những nét độc đáo, với những đặc trƣng cơ bản riêng. Chính vì lẽ đó, Thị trấn Liên Nghĩa cũng không nằm ngoài đặc điểm khí hậu của huyện. Nơi đây ít gió bão, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,5oC; lƣợng mƣa trung bình 1.860 mm; lƣợng bốc hơi trung bình 700 mm.

Tại Thị trấn Liên Nghĩa, khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mƣa từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 11; mùa khô từ tháng 11 đến đầu tháng 4 năm sau, khí hậu khô và lạnh hơn mùa mƣa. Chế độ gió đƣợc chia thành hai mùa: mùa khô có gió Bắc, Đông Bắc; mùa mƣa có gió Tây, Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10. Mặc dù có khí hậu nhƣ thế nhƣng so với những nơi khác trong huyện, Thị trấn Liên Nghĩa nằm ở độ cao trung bình 900 m cho nên khí hậu ở đây khá ôn hòa, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không lớn, nắng nhiều, ẩm độ không khí thấp. Nhiệt độ trung bình ban đêm là 18oC, và ban ngày là 26oC.

Nguồn nƣớc mặt chủ yếu của thị trấn là hệ thống sông Đa Nhim, đây là một con sông lớn ở phía đông thị trấn, có chiều dài 15 km, rộng 20 m – 25 m. Ngoài ra, thị trấn còn có mạch nƣớc ngầm xuất hiện ở độ sâu 12 m – 15 m và dao động 1,5 m – 2 m theo mùa mƣa, nắng. Nƣớc ngầm mạch sâu qua các giếng khoan ở độ sâu > 80 m kể từ mặt đất. Công trình thủy lợi và cũng là hồ chứa nƣớc lớn của Thị trấn Liên Nghĩa chính là đập tràn Liên Khƣơng đã đƣợc kiên cố hóa, có khả năng tƣới tiêu trên 600 ha.

Với 360 ha đất lâm nghiệp, Thị trấn Liên Nghĩa có một nguồn tài nguyên sinh vật rất phong phú gồm nhiều loại động thực vật quý hiếm nhƣ hổ, voi, khỉ, tê giác, nai,… các loại gỗ quý nhƣ trầm hƣơng. Tuy nhiên, do tình trạng săn bắt và khai thác một cách bừa bãi nên dẫn đến tài nguyên sinh vật ở đây trở nên cạn kiệt và nhiều loại động vật đã bị tuyệt chủng. Chính bởi những đặc điểm tự nhiên nhƣ thế, Liên Nghĩa đã trở thành thị trấn của huyện Đức Trọng với những tiềm lực hết sức to lớn cho việc phát triển kinh tế khi là một đầu mối rau quả lớn của khu vực, có sản phẩm đƣợc xuất đi các tỉnh lân cận với khối lƣợng không hề nhỏ. Tổng số dân cƣ của thị trấn là 45.

Trong đó, ngƣời Kinh chiếm 50 % dân số toàn thị trấn, ngoài ra còn có dân tộc Hoa, Nùng, Tày, Thái… 3. Với 14 dân tộc chung sống trên địa bàn, Thị trấn Liên Nghĩa đã trở thành nơi hội tụ cả 3 dòng ngôn ngữ chính trên đất nƣớc Việt Nam: Nam Á, Nam Đảo, Hán – 3 Nguồn: Phòng Dân tộc – Ủy ban nhân dân huyện Đức Trọng, 2014. Tuy có sự giao lƣu tiếp xúc văn hóa các tộc ngƣời trên địa bàn, thế nhƣng điều đó không có nghĩa các dân tộc bị mất đi hoàn toàn nền văn hóa truyền thống của mình mà đã tạo nên nét đặc trƣng trong đa dạng, mang lại những bản sắc độc đáo cho Thị trấn Liên Nghĩa nói riêng và huyện Đức Trọng nói chung. Tổng quan về dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng 1.

Lịch sử hình thành và ngôn ngữ - chữ viết của dân tộc Nùng Nói đến lịch sử hình thành tộc ngƣời Nùng trên lãnh thổ Việt Nam không thể không nói đến những tộc ngƣời ở Trung Quốc và đã có một số nhận định nhƣ sau: - Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, cũng đã đƣa ra những nghiên cứu cho rằng: “Nguồn gốc ngƣời Nùng thuộc nhóm Tày – Thái miền Đông với địa bàn cƣ trú chủ yếu là vùng Lƣỡng Quảng (bao gồm tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc) và Đông Bắc Việt Nam. Ngƣời Nùng có nhiều mối quan hệ về lịch sử văn hóa với ngƣời Choang ở Trung Quốc. Tộc danh Nùng theo hai ông bắt nguồn từ tên gọi của một trong bốn dòng họ lớn: Nùng, Hoàng, Chu, Vy thống trị ở 2 bờ Tả Hữu Giang, tức các miền biên giới Cao Bằng và Quảng Tây.” 5 - Theo Tuấn Quỳnh, trong Đồng bào các tộc Nùng ở Việt Nam (năm 1968) cho rằng ngƣời Nùng di cƣ từ phƣơng Bắc tới từ thế kỉ VIII, do điều kiện địa lý tự nhiên không thuận lời và do không chịu khuất phục ngƣời Hán. Ông cho rằng ngƣời Nùng ở nƣớc ta chia thành 3 nhóm: nhóm Cao Bằng, Lạng Sơn và Hà Giang đều từ Quảng Tây sang.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ