CHƯƠNG I TỎNG QUAN VÈ NGƯỜI KHMER ĐÒNG BẰNG SÔNG c ử u LONG Trước hết, đồng bàng sông Cửu Long là một vùng thiên nhiên đa dạng, đồng bàng lớn nhất và trù phú nhất của Việt Nam. Từ xa xưa, với môi trường sinh thái phong phú, đồng bằng sông Cửu Long đã là nơi hội tụ của nhiều dòng văn hóa của các thành phần dân cư khác nhau. Cho dến ngày nay nó vẫn là một vùng hỗn hợp về dân cư, về quá trình hòa hợp của các tộc người có chung một sổ phận lịch sử. Quá trình lịch sử đặc thù ấy đã làm hình thành nên những nét độc đáo, riêng biệt trong đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nơi đây.
Tuy mỗi tộc người có những đặc điểm kinh tế, xă hội, văn hóa, tôn giáo riêng biệt nhưng vì cùng sống chung lâu đời Irên một địa bàn ncn đã có những thích nghi, ảnh hưởng, giao lưu và tiếp biến văn hóa, hình thành một diện mạo văn hóa vùng có đầy đủ đặc điểm của một vùng lịch sử, văn hóa. Với đặc thù sông nước chi phối toàn bộ cuộc sống các cộng đồng người trong vùng nên có thể nói văn minh sông nước miệt vườn và văn hóa miệt vườn ỉà nét văn hóa đặc sảc chung cho các tộc nsười và là 19 nét văn hóa ricng biệt của vùng văn hóa đồng bàng sông Cửu Long. ĐẶC DIÊM DỊA LÝ TỤ NHIÊN VÀ DÂN c ư VÙNG ĐÒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG Theo tài liệu shi chép của các nhà địa lý thì cách nay hơn 2.500 năm, vùng đất của đồng bằng sông Cửu Long xưa đà dần hiện lcn cùng với sự rút lui dần của nước biển. Lúc đó thủy triều đã tác động mạnh, chia cắt đồng bằng thành hàng ngàn lạch triều lớn nhỏ đan xen nhau ncn chia cát vùng này thành nhiều vùng đất.
Tới nay, đồne bàng sông Cửu Lorm là đồng bằng lớn nhất nước ta với diên tích là 3.900 ha, chiếm 12% diện tích của cả nước, là trọng điểm phát triến nông nghiệp của quốc gia. Không chỉ là nơi cung cấp về lúa gạo, đồn£ bàng sông Cửu Long còn cung cấp một số lượn£ lớn về các nône sản rau quả, thực phẩm, thủy sản, đặc biệt về tôm, cá có giá trị xuất khẩu cao. Vùng ngập mặn của đồna bàne sông Cửu Long đem lại giả trị cao về môi trườns sinh thái, làm phong phú thcm về nguồn lâm sản cũng như việc bảo tồn các sinh vật, động vật hoang dă của nước ta. Đồna bàna sông Cửu Long có một hệ thống sông ngòi dày đặc, ngoài các con sông lớn thuộc hệ thống sông Mêkông còn có trên 50.000 con kênh rạch nên rất thuận tiện cho giao thông đường thủy.
Do ảnh hưởng của khí hậu gió mùa và hệ thống triều cường nên lượng nước ở đồng bằng sôn£ Cửu Lona, có sự chênh lệch khá lớn. Vào mùa mưa, mùa gió Tây Nam, vùng dồng bàng sông Cửu Long 20 thường gặp lũ lụt ảnh hưởng đến sinh hoạt và tài sản của cư dân. Tuv nhicn, sau mỗi lần lũ lụt đó, một lượng phù sa để lại đà bồi đáp cho đồng bằng thêm phì nhiêu để tăng năng suất cây trồng. Đồng bàng sông Cửu Lona không phải là một vùng địa lý thống nhất về môi trường sinh thái.
Các nhà địa lý chia đồng bằng sông Cửa Long thành các tiểu vùng: - Vùng phù sa không ngập nước Là những khu vực tương đối cao ráo thuộc một số địa phương như: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, cần Thơ, Hậu Giang và Sóc Trăng, nơi có nhiều kênh rạch dễ thoát nước vào mùa mưa, có đất phì nhiêu nên các cây trồng thường mang lại sản lượng cao. - Phần đất nhiễm mặn và ít ngập nước Thuộc địa bàn các tỉnh như Đồng Tháp, Lone An, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau. Đây là những nơi rất phone phú về nguồn thủy sản nước lợ song lại có phần hạn chế trong việc trồng lúa nước. - Vùng ngập nưởc gồm tứ giác Long Xuyên, Cao Lãnh và Đồng Tháp Là nơi vào mùa mưa ngập từ 3,5 - 4m.
Trước đây vùng này thường được người dân trồng lúa nước nổi, bao bọc quanh vùng ngập là những eiồng đất cao thuận lợi cho cư trú. - Vùng đồi núi Ở phía Tây đồng bằng sône Cửu Long thuộc các tỉnh miền Tây, giáp với biên giới Campuchia. 21 Hiện nay, chủ nhân văn hóa của vùng đồng bàng sông Cửu Long là trên 17 triệu người, trong đó có bốn tộc người chính: người Kinh, neười Khmer. người Hoa và naười Chăm.
Ớ đồng bàng sônẹ Cửa Long, người Kinh chiếm đa số (hơn 13 triệu), phân bố đều khấp trong vùng. Năm 1698 khi chúa Nguyễn chính thức lập phủ Gia Định, thiết lập xã, thồn, phường, ấp, chia cát giới phận. làm sổ đinh điền thì địa vị của người Kinh mới được xác định vững chắc. Người Khmer trong vùng đồng bàng sông Cửu Long có trên 1,3 triệu người, phân bố không đều, nhiều nhất là ở các tỉnh: Sóc Trăng (khoảng 350.000 người chiếm 28,50% dân số tỉnh), Trà Vinh (khoảng 320.000 người chiếm 28,05% dân số tỉnh), rồi đến Kiên Giang (khoảng 180.000 người), An Giang (khoảng 85.000 người), Bạc''Liêu (khoảng 59.000 người), Cà Mau (khoảng 24.000 người), Vĩnh Long (khoảng 22.
Người Hoa đặt chân đến vùng đồns; bằng sông Cửu Long vào khoảng sau thế kỷ XVII với những đợt di cư lớn, ồ ạt, mang theo nhữns giá trị văn hóa Hán góp vào nền văn hóa chung của vùng, tạo nên sự đa dạng và phong phú. số lượng người Hoa hiện sống tại vùng đồng bàng sông Cửu Long là không nhiều (chưa tới 300.000 người) nhưng họ rất gắn bó và coi đây là quê hương thứ hai của mình nên sống hòa thuận và chia sẻ những khó khăn, thuận lợi với các tộc người khác trong vùngể Người Hoa ở vùng đồng bằng sông Cửa Long có mối quan hệ mật thiết về nhiều mặt với người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh. 22 Người Chăm sông ở đông băng sông Cửu Long chính là một bộ phận tách ra từ cộng đồng người Chăm ở Trung Bộ, do 20 những biến động lịch sử của vương quốc Chămpa cổ đại mà chuyển xuống nơi này (một số khác chạy sang Campuchia, Thái Lan), số neười Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long, về văn hóa chịu sự ảnh hưởng nhiều của nhóm cư dân Malaysia, Ấn Độ, Khmer tại chỗ. Đặc biệt, chịu ảnh hường của văn hóa Hồi giáo nên chủ yếu họ là người Chăm Islam.
Người Chăm ở đồng bằng sồng Cửu Long sinh sống chủ yếu ở vùng Châu Đốc (khoảng 14.000 người) rồi sau đó lan tỏa ra các vùng khác như thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Tây Ninh.ệ Các dân tộc cư trú tại vùng đồng bằng sông Cửu Long khá tương đồng về những điều kiện kinh tế, văn hóa. Họ sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệpẽ Quá trình khẩn hoang đã khiến các phương thức canh tác lúa nước (tự nhiên và gieo trồng), đánh bát thủy hải sản của các tộc người gần như nhau. Tuy có sự khác nhau giữa các tộc người về điều kiện kinh tế nhưng nhìn chung không có sự quá khác biệt về mức độ và kỹ. GIAO LƯU, TIẾP BIÉN VĂN HÓA GIỮA CÁC TỘC NGƯỜI Quá trình khai phá đồng bàng sông Cửu Long ỉà quá trình lao động vất vả của người Kinh với người Khmer, người Hoa, người Chăm và cả người Mạ, người Mnông, người Stiêng.
Vì chung cảnh ngộ là những người di cư, thiếu vắng các quan hệ thân tộc nên sợi dây liên kết gán bó giữa con người với con người nơi “miền đất lạ” được lấy 23 làm trọng. Đất rộng, người thưa, việc khai thác tùy thuộc vào khả năng của từng naười, từng nhóm người với tinh thần hòa hợp và tình đoàn kết thân ái trong mỗi nhóm cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn. Vì vậy, trong suốt quá trình khẩn hoang chưa xảy ra vụ tranh chấp lớn vồ đất đai nào giữa các tộc người. đồng bằng sông Cửu Long với các chủ nhân văn hóa chính là Việt, Khmer, Hoa và Chăm (Islam) cùng sống chung trên một vùng lãnh thổ, có chung một số phận lịch sử nên đã có quá trình giao lưu, tiếp biến vàn hóa lâu dài.
Tuy đồrm bàng sông Cửu Long được gọi là ‘‘vùng đất mới”, các íiiá trị văn hóa chưa kịp lắng đọng để cỏ một bề dày như văn hóa sông Hồng, nhưng văn hóa Việl vẫn được nấy chồi bên cạnh văn hóa Khmer, Chăm và Hán hình thành một đặc trưne, văn hóa ricng của 5 vùng sòng nước. Sự tiếp biến sâu sắc tới mức, nếu nhìn bàng Iiiột lát cắt trong văn hóa dân gian của mỗi tộc người, chung ta khó phân biệt được đàu là yếu lố nội sinh, đâu là >011 tố ngoại nhập. Sự tương đồng đó không chỉ thể hiện troiụ: lao dộng sản xuât, trong ăn mặc, trong các phong tục tập quán tang ma, cưới xin, xây cất nhà ở, thc cúng tổ tiên, mà còn biéu hiện trong các truyền thuyết dân gian, trong các loại hình nghệ thuật. - về ngôn ngữ Ở đây diễn ra hiện tượng song ngừ và tam lìgữ.
Người Khmer, trừ người già, còn lại dều nghe, hiểu \ à nói được tiếng Việt trong quan hệ xã hội. Người Hoa cũng có nhiều 24 người nói, n^hc được tiêne Khmer và tiêng Kinh và neượe lại người Kinh cũng vậy, họ cùne có thể nghe và nói tiếng Khmer, tiếng Iỉoaẵ Trong sinh hoạt, 3 ngôn ngữ Kinh - Khmer - Hoa được cả 3 tộc người chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngừ kia một cách rất tự nhicn. - Trong lao động sản xuất Người Khmer và người Kinh là cư dân canh tác lúa nước, cùng chia sẻ những kinh nghiệm và kỳ thuật canh tác. Từ việc chọn giống, làm đất, gieo mạ, cày bừa, cấv lúa, bón phân đến thu hoạch cắt lúa bằng lưỡi liềm (Kà liêm), đập lúa trong bồ (Đôk) họ đều làm tương đối giống nhau.
Cả người Kinh và người Khmer đều sử dụng hai loại cuốc phổ biến là cuốc tiều và cuốc tai tượne. Cuốc tiều có từ lâu đời, lưỡi dày, nặng, khó găy vì có gờ nối dài ở mặt sau, cán gỗ chácễ Gọi là cuốc tiều vì người Khmer mua ở tiệm người Hoa, người Hoa lại đặt thợ rèn người Kinh làm. Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, cày có đòn tay, một vài chi tiết cải biến ở đế cày và việc dùng lưỡi cày (Phâldèk - Neangkol) bằng sắt là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa Khmer - Việt ở đồng bằng sông Cửu Long cho phù hợp vói thiên nhiên Nam Bộ(1).