Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Dân tộc học với đề tài "Biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận (1975 - 2015)" do nghiên cứu sinh Lý Hoàng Nam thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2020), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phan Xuân Biên. Luận án thuộc chuyên ngành Dân tộc học (mã số: 62.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu biến đổi kinh tế - xã hội và văn hóa là chủ đề thu hút sự quan tâm của ngành Dân tộc học, Nhân học và Xã hội học trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Dân tộc Chăm là một trong những cộng đồng có lịch sử lâu đời và bản sắc văn hóa đặc trưng tại Việt Nam. Giai đoạn 1975 - 2015 là thời kỳ diễn ra nhiều chuyển biến căn bản trong đời sống của đồng bào Chăm dưới tác động của các chủ trương, chính sách từ Đảng và Nhà nước, tiêu biểu là Chỉ thị 121/CT/TW (năm 1981), Thông tri 03-TT/TW (năm 1991) của Ban Bí thư và Chỉ thị 06/2004/CT-TTg (năm 2004) của Thủ tướng Chính phủ.

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Chăm, phần lớn các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận chuyên sâu vào từng lĩnh vực riêng lẻ (khảo cổ học, văn bia, kiến trúc đền tháp, tôn giáo, ngôn ngữ) hoặc giới hạn trong phạm vi không gian hẹp. Luận án được triển khai nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về một công trình tổng thể, hệ thống hóa và xuyên suốt quá trình biến đổi trên cả ba bình diện kinh tế, cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm tại hai địa bàn cư trú tập trung nhất là Ninh Thuận và Bình Thuận trong suốt 40 năm (1975 - 2015).

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định bốn mục tiêu cụ thể:

  1. Nghiên cứu và nhận diện những đặc điểm về kinh tế, xã hội và văn hóa truyền thống của người Chăm qua các giai đoạn; khảo sát thực trạng nhằm làm sáng rõ các đặc điểm, yếu tố và khía cạnh biến đổi kinh tế, xã hội, văn hóa tộc người của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận từ trước và trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (1975 - 2015).
  2. Lựa chọn và tiến hành khảo sát các cộng đồng dân cư tiêu biểu (nghiên cứu trường hợp - case study) có tính đại diện để tìm hiểu, mô tả, so sánh quá trình biến đổi và hệ quả đối với phát triển xã hội; xem xét biến đổi từ góc độ lựa chọn phát triển của chủ thể hành động trong cộng đồng.
  3. Hệ thống hóa và phân tích toàn diện các nguồn tài liệu điền dã và thư tịch để làm rõ những chuyển biến trong đời sống kinh tế, cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm giai đoạn 1975 - 2015.
  4. Phân tích bối cảnh, các yếu tố và nguyên nhân tác động đến quá trình biến đổi; từ đó đánh giá thực trạng các lĩnh vực và quá trình xã hội tộc người của người Chăm trong suốt giai đoạn nghiên cứu.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận?
  2. Dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan của thời kỳ Đổi mới, đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận đã và đang biến đổi như thế nào? Mức độ tác động của từng yếu tố đó ảnh hưởng đến sự biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm? Yếu tố nào là tác động chủ yếu đến sự biến đổi đó?
  3. Trong bối cảnh biến đổi kinh tế, xã hội chung đó, nét văn hóa tiềm ẩn tạo nên bản sắc văn hóa Chăm có biến đổi không? Nếu có thì xu hướng biến đổi của nó ra sao?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan của thời kỳ Đổi mới, đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm có sự biến đổi mạnh mẽ; trong đó đời sống kinh tế và văn hóa vật chất thay đổi nhanh và rõ rệt hơn cấu trúc xã hội và văn hóa tinh thần. Tính cố kết cộng đồng của người Chăm được mở rộng vượt qua khuôn khổ truyền thống nhờ các phương tiện kỹ thuật mới (xe máy, điện thoại, internet) và chi phối trở lại các lĩnh vực văn hóa.
  2. Yếu tố tác động chủ yếu đến sự biến đổi là đường lối đổi mới và chính sách của Đảng, Nhà nước; kế tiếp là yếu tố nội tại của cộng đồng (sự tiếp thu có chọn lọc theo hướng cách tân), việc vận dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự giao lưu tiếp biến văn hóa với các dân tộc trong vùng.
  3. Sự thay đổi về tập quán sản xuất và công cụ sản xuất là nguyên nhân chính dẫn tới biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội; văn hóa Chăm vừa dung hợp các yếu tố mới để hội nhập, vừa bảo lưu và phát huy bản sắc riêng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm; các yếu tố tác động và chính sách đối với sự biến đổi này từ năm 1975 đến năm 2015.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận. Khảo sát trọng điểm tại: xã Phước Nam (huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận), thị trấn Phước Dân (huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận) và xã Phan Thanh (huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận); kết hợp điền dã bổ trợ tại các xã Phước Thái, Phước Hữu (Ninh Thuận) và Phan Hòa, Phan Hiệp (Bình Thuận).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2015 (gồm thời kỳ trước Đổi mới 1975 - 1986 và thời kỳ Đổi mới, CNH-HĐH 1986 - 2015).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào ba nhóm nội dung cơ bản: phương thức kinh tế (nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ), cấu trúc xã hội (gia đình, dòng họ, tổ chức làng), và văn hóa tộc người (văn hóa vật chất: ẩm thực, trang phục, nhà ở; văn hóa tinh thần: lễ hội, tín ngưỡng - tôn giáo, cưới xin, tang ma).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm luận

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu liên quan theo 4 nhóm chủ đề chính:

  1. Nghiên cứu về biến đổi văn hóa - xã hội trong Nhân học và Dân tộc học:

    • Các công trình nghiên cứu biến đổi xã hội ở đô thị và nông thôn sau Đổi mới 1986: Cao Tự Thanh (cb, 2006) về Thành phố Hồ Chí Minh; Lương Văn Hy, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Phan Thị Yến Tuyết (2009) về hiện đại và truyền thống; Ngô Đình Khiêm (2009) về Cà Mau; Lê Thị Huệ về Bình Phước; Nguyễn Thị Kim Hoa (2010) về Khánh Hòa; Nguyễn Văn Hiệp (2011) về Bình Dương; Nguyễn Văn Quyết (2013) về biến đổi văn hóa nông thôn trước tác động của khu công nghiệp tại Đồng Nai; Đào Công Bình (2007); Nguyễn Duy Bắc (cb, 2008); Nguyễn Thanh Tuấn (2006).
    • Nghiên cứu văn hóa làng xã: Nguyễn Tùng (1999), Latina (1996), Michio Suenari, Viện Viễn đông Bác Cổ Pháp phối hợp Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia (2002), Từ Chi (1984), Phan Đại Doãn (1992), Tô Duy Hợp (2000), Nguyễn Thị Phương Châm (2009), Lương Hồng Quang (2010).
    • Đánh giá thực trạng vùng dân tộc thiểu số: Công trình của Viện Dân tộc (2009) về cơ hội và thách thức đối với vùng dân tộc thiểu số.
  2. Nghiên cứu về kinh tế của người Chăm:

    • Nghiên cứu của học giả Pháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX: J. Maspéro, P. Lafont, Lương Ninh (1992) thống kê trên 1.000 tài liệu, chủ yếu về ngôn ngữ, văn bia, kiến trúc, tôn giáo, lịch sử.
    • Nghiên cứu của học giả Việt Nam: Tập thể 10 tác giả trong công trình Người Chăm ở Thuận Hải (1989); luận án tiến sĩ của Võ Công Nguyện (1996) về nghề thủ công cổ truyền; bài viết của Đoàn Việt về hiện tượng đi làm ăn xa của người Chăm tại thôn Hữu Đức (Ninh Thuận); nghiên cứu của Lê Trần Quyên về hình thức sở hữu đất đai truyền thống tại thôn Hậu Sanh (Ninh Thuận).
  3. Nghiên cứu về văn hóa - xã hội người Chăm:

    • Các công trình tổng quan: Những vấn đề dân tộc học miền Nam Việt Nam (Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM, 1978); Văn hóa Chăm (1991); 40 năm nghiên cứu văn hóa Chăm; Thanh Trà (2012) với Lược sử văn minh Champa.
    • Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội: Phan Văn Dốp (1993); Ngô Văn Doanh (1994, 1998, 2003, 2006, 2009); Phan Lạc Tuyên (2007); Nguyễn Mạnh Cường và Nguyễn Minh Ngọc (2003); Phan Quốc Anh (2006); Hoàng Minh Đô (2006); Nguyễn Hồng Dương (cb, 2007); Vương Hoàng Trù (2003); Trịnh Thúy Quỳnh và Nguyễn Ngọc Ánh về chuyển đổi tôn giáo; Trần Văn Chung về chuyển đổi sang đạo Tin Lành.
    • Nghiên cứu ngôn ngữ, giáo dục, làng nghề, luật tục và thiết chế xã hội: Phú Văn Hẳn (1993, 2003); Nguyễn Văn Tỷ (2005, 2010); Sakaya (2001, 2003, 2010); Phan Đăng Nhật (cb, 2003); Đàng Năng Hòa về tác động của du lịch; Lý Hành Sơn về thiết chế xã hội phi quan phương; Trần Tiến Hưng (2014) về vận dụng luật tục; Ngô Thị Chính và Tạ Long (2007) về ảnh hưởng yếu tố tộc người; Huỳnh Ngọc Thu (2003) về người Chăm TP.HCM; đặc san Tagalau do Inrasara, Trà Vigia, Trầm Ngọc Lan, Nguyễn Văn Tỷ sáng lập (từ năm 2000).
  4. Nghiên cứu chính sách dân tộc đối với người Chăm:

    • Báo cáo và nghiên cứu của Mã Điền Cư (2004, luận án tiến sĩ 2016); Trần Thị Ngọc Lan (Ban Tuyên giáo Trung ương); Trần Tiến Thành (2004, 2010); Hoàng Minh Đô (2004); Thành Chiểu; Cửu Văn Thắng và Huỳnh Tấn Đãi; các báo cáo của Ban Dân vận Tỉnh ủy và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận; luận văn thạc sĩ của Lý Hoàng Nam (2010) về chính sách dân tộc đối với người Chăm tại TP.HCM.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây nghiêng nhiều về mô tả văn hóa, tín ngưỡng hoặc nghiên cứu lịch sử cổ trung đại, thiếu vắng các nghiên cứu định lượng kết hợp định tính về chuyển đổi cơ cấu kinh tế và biến đổi cấu trúc xã hội trong 40 năm qua. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát thực chứng, phân tích biến đổi toàn diện từ kinh tế (nông nghiệp, làng nghề, phi nông nghiệp) đến cấu trúc xã hội (gia đình, dòng họ, làng) và văn hóa tộc người dưới tác động trực tiếp của các chính sách phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1975 - 2015.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung lý thuyết sử dụng

  • Các khái niệm công cụ: Truyền thống, Phát triển, Phát triển bền vững (theo định nghĩa của WCED 1987, Hội nghị Rio 1992 và Johannesburg 2002), Biến đổi kinh tế, Xã hội, Kinh tế - xã hội (dựa trên quan điểm hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác và Ph. Ăng-ghen), Tăng trưởng kinh tế, Phát triển kinh tế, Biến đổi xã hội (theo Từ điển Xã hội học Oxford, Nguyễn Khắc Viện), Biến đổi văn hóa (cultural change - tiếp cận theo Robert H., Phan Ngọc, Đoàn Văn Chúc, Ngô Đức Thịnh với mô hình truyền thống - tiếp biến - đổi mới).
  • Thuyết phát triển của Ronald Inglehart: Tiếp cận tác phẩm Hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa để phân tích mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa kinh tế, văn hóa và xã hội; chỉ ra sự biến đổi của tộc người diễn ra theo một hệ thống đồng bộ. Kết hợp thuyết chuyển dịch cơ cấu của M. Syrquin về vai trò tiên phong của chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong biến đổi kinh tế nông nghiệp.
  • Thuyết biến đổi xã hội của Auguste Comte: Phân tích các nhân tố quyết định sự vận động xã hội (nhận thức, tư tưởng con người, cơ cấu kinh tế); vai trò của Nhà nước trong việc điều hòa, liên kết các tiểu cơ cấu; nghiên cứu cấu trúc gia đình, quan hệ hôn nhân và huyết thống từ quy mô làng xã đến hộ gia đình.
  • Lý thuyết diễn ngôn (Discourse Theory) của Michel Foucault: Khai thác quan niệm về diễn ngôn trong tiểu luận Trật tự của diễn ngôn (L'Ordre du discours), xem diễn ngôn là hệ thống quy tắc, cấu trúc tư tưởng và công cụ thực thi quyền lực. Luận án vận dụng lý thuyết này để phân tích đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như một hệ thống diễn ngôn định hình và thúc đẩy tiến trình biến đổi kinh tế, xã hội vùng đồng bào Chăm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp liên ngành Dân tộc học - Nhân học:

  • Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu hệ thống để tiến hành điều tra 300 bảng hỏi tại 3 địa bàn đại diện:
    • Tỉnh Ninh Thuận (200 phiếu): Thị trấn Phước Dân (huyện Ninh Phước) và xã Phước Nam (huyện Thuận Nam).
    • Tỉnh Bình Thuận (100 phiếu): Xã Phan Thanh (huyện Bắc Bình).
    • Dữ liệu điều tra bảng hỏi được xử lý bằng phần mềm SPSS.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính:
    • Phỏng vấn sâu (in-depth interview) và phỏng vấn hồi cố với các nhóm đối tượng: cán bộ quản lý thuộc cơ quan Đảng, chính quyền, cán bộ hưu trí, chức sắc tôn giáo, nhân sĩ, trí thức, doanh nhân và nghệ nhân Chăm tại địa bàn nghiên cứu và tại TP. Hồ Chí Minh.
    • Quan sát tham dự (participant observation): Thực hiện qua các đợt điền dã thực địa định kỳ (trung bình 2 đợt/năm), kết hợp mạng lưới thông tín viên là trí thức và người bản xứ.
    • Phương pháp so sánh dân tộc học: Sử dụng so sánh lịch đại (trước và sau 1986, giai đoạn 1975 - 2015) và so sánh đồng đại (giữa các vùng Chăm, giữa người Chăm với các dân tộc cộng cư như người Kinh, Raglai).
  • Phương pháp phân tích tư liệu thư tịch và tài liệu thứ cấp: Khai thác báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 121/CT/TW (Ban Dân vận Trung ương, 1991), báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Thông tri 03-TT/TW (Văn phòng Trung ương, 2013), các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND, Ban Dân tộc, Ban Tôn giáo hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về dân tộc Chăm

Chương này trình bày cơ sở lý luận, các khái niệm, khung lý thuyết (Inglehart, Syrquin, Comte, Foucault) và tổng quan điều kiện tự nhiên, dân cư người Chăm tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên khu vực Ninh Thuận - Bình Thuận: Thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, khí hậu khô hạn nhất cả nước (lượng mưa trung bình năm 700 - 800 mm ở Phan Rang - Tháp Chàm, bốc hơi mạnh từ 670 - 1.000+ mm, nhiệt độ trung bình năm 27°C). Địa hình chia làm 3 dạng: đồi núi (chiếm 63,2% diện tích tự nhiên), đồi gò bán sơn địa (14,4%), đồng bằng ven biển (22,4%). Tổng quỹ đất hơn 535,5 nghìn ha (đất nông nghiệp chiếm 83,24%). Nguồn nước mặt và nước ngầm hạn chế, phân bố không đều.
  • Phân bố dân cư: Thống kê năm 2015 của Ban Dân vận Trung ương cho thấy tổng dân số người Chăm cả nước là 161.729 người, cư trú tại 23 tỉnh, thành phố. Trong đó, Ninh Thuận và Bình Thuận là hai địa bàn tập trung lớn nhất, chiếm trên 63% tổng dân số Chăm cả nước.
Tỉnh / Thành phố Dân số (người) Tỉnh / Thành phố Dân số (người)
Ninh Thuận 67.274 Đắk Lắk 290
Bình Thuận 34.690 Khánh Hòa 271
Phú Yên 19.945 Long An 218
An Giang 14.209 Bà Rịa - Vũng Tàu 198
TP. Hồ Chí Minh 7.819 Cần Thơ 173
Bình Định 5.336 Trà Vinh 163
Đồng Nai 3.887 Sóc Trăng 106
Tây Ninh 3.250 Cà Mau 106
Bình Dương 837 Vĩnh Long 91
Gia Lai 659 Đồng Tháp 90
Bình Phước 568 Kiên Giang 400
Lâm Đồng 473 Các tỉnh khác 676
  • Đặc điểm phân nhóm tộc người: Luận án phân tích cộng đồng Chăm Panduranga (Ninh Thuận, Bình Thuận), nhóm Kinh Cựu (Yuen Chăm ở Bình Thuận), Chăm H'roi (Phú Yên, Bình Định) và Chava Kur (An Giang).

Chương 2: Biến đổi kinh tế của người Chăm từ 1975 - 2015

Chương 2 tập trung phân tích sự chuyển biến trong các phương thức sinh kế và tổ chức sản xuất:

  • Biến đổi về sở hữu và sử dụng đất đai: Chuyển dịch từ sở hữu đất đai truyền thống (đất cộng đồng làng, đất đền tháp, đất dòng họ mẫu hệ) sang mô hình tập thể hóa nông nghiệp sau năm 1975 (Hợp tác xã, Tập đoàn sản xuất), và tiếp tục chuyển đổi sau năm 1986 khi Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ gia đình (thể hiện qua Bảng 2.1 về cơ cấu hộ theo diện tích đất nông nghiệp).
  • Biến đổi kinh tế nông nghiệp:
    • Trồng trọt: Chuyển từ canh tác lúa nước truyền thống 1 vụ bấp bênh sang thâm canh 2 - 3 vụ/năm nhờ hệ thống thủy lợi (kênh mương, hồ đập). Đưa các giống lúa mới năng suất cao vào sản xuất vụ đông xuân (Bảng 2.3, Bảng 2.4, Bảng 2.5). Chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn: phát triển cây ăn quả và hoa màu hàng hóa như nho, táo, thanh long, ngô lai, hành, tỏi.
    • Chăn nuôi: Thay đổi phương thức chăn thả tự nhiên sang bán công nghiệp và nuôi nhốt có kiểm soát; gia tăng đàn gia súc có thế mạnh ở vùng khô hạn gồm bò, dê, cừu (Bảng 2.6 thể hiện số lượng gia súc tại xã Phan Thanh qua các năm).
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ngành nghề mới:
    • Phục hồi và thương mại hóa các làng nghề thủ công truyền thống: nghề gốm Bàu Trúc, nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp, Chung Mỹ (thị trấn Phước Dân). Các sản phẩm chuyển từ phục vụ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa gắn với du lịch.
    • Xuất hiện các ngành nghề phi nông nghiệp mới: nghề mộc, nghề nề, dịch vụ thương mại, buôn bán nhỏ (Bảng 2.7).
    • Sự gia tăng xu hướng lao động di cư làm ăn xa nhà đến các trung tâm công nghiệp lớn như TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai (Bảng 2.8 thống kê người Chăm xã Phước Nam đi làm ăn xa giai đoạn 2011 - 2015).

Chương 3: Biến đổi về cấu trúc xã hội và văn hóa tộc người của người Chăm từ 1975 - 2015

Chương này đánh giá các biến đổi trong quan hệ xã hội và đời sống văn hóa:

  • Biến đổi về cấu trúc xã hội:
    • Quan hệ gia đình và dòng họ: Quy mô gia đình truyền thống nhiều thế hệ chuyển dần sang mô hình gia đình hạt nhân (Bảng 3.1). Mặc dù vẫn duy trì chế độ mẫu hệ (phong tục cưới chồng, cư trú bên vợ, thừa kế tài sản thuộc về con gái út), vai trò của người đàn ông/người chồng trong các quyết định kinh tế và đối ngoại gia đình ngày càng tăng lên.
    • Tổ chức làng (Palay): Thiết chế tự quản làng truyền thống gắn với các chức sắc tôn giáo, hội đồng bô lão từng bước tích hợp với hệ thống chính quyền cơ sở (UBND xã, Ban quản lý thôn/khu phố, các đoàn thể chính trị - xã hội) và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, dung hợp giữa luật tục và luật pháp Nhà nước.
  • Biến đổi về văn hóa tộc người:
    • Văn hóa vật chất:
      • Ẩm thực: Tiếp nhận các loại thực phẩm chế biến công nghiệp, kỹ thuật nấu ăn mới của người Kinh, nhưng duy trì nghiêm ngặt các quy chuẩn kiêng kỵ trong nghi lễ tôn giáo (Bảng 3.2, Bảng 3.3).
      • Trang phục: Tỷ lệ người mặc trang phục truyền thống phân hóa rõ rệt theo nhóm tuổi (Bảng 3.4). Giới trẻ chuyển sang âu phục trong sinh hoạt hằng ngày; trang phục truyền thống được bảo lưu và sử dụng bắt buộc trong các nghi lễ, cưới hỏi, lễ hội.
      • Nhà ở và tiện nghi: Thay thế dần nhà tranh vách đất bằng nhà xây kiên cố; phổ biến các tiện nghi sinh hoạt hiện đại như xe máy, tivi, tủ lạnh, điện thoại di động (Bảng 3.5).
    • Văn hóa tinh thần:
      • Lễ hội và nghi lễ vòng đời: Các lễ hội truyền thống lớn như Rija Nưgar, Katê (Chăm Bà La Môn), Ramưwan (Chăm Bà Ni) được duy trì, tổ chức quy củ và nâng lên thành các sự kiện văn hóa phục vụ du lịch. Nghi lễ cưới xin, tang ma được tinh giản các thủ tục phức tạp, giảm bớt chi phí tốn kém.
      • Đời sống tôn giáo: Sự cộng tồn giữa Chăm Ahiêr (Bà La Môn) và Chăm Awal (Bà Ni), nhóm Chăm Islam, cùng sự xuất hiện của hiện tượng chuyển đổi sang đạo Tin Lành tại một số điểm cư trú.

Chương 4: Yếu tố tác động đến biến đổi kinh tế, văn hóa, xã hội của người Chăm

Chương 4 phân tích các nhóm nguyên nhân thúc đẩy sự biến đổi:

  • Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước: Phân tích hiệu quả từ việc triển khai Chỉ thị 121/CT/TW, Thông tri 03-TT/TW, Chỉ thị 06/2004/CT-TTg; các chương trình mục tiêu quốc gia đầu tư cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, thủy lợi).
  • Phát triển hệ thống chính trị cơ sở: Sự gia tăng số lượng đảng viên người Chăm và đội ngũ cán bộ chủ chốt người Chăm ở cấp xã, huyện tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận giai đoạn 1992 - 2015 (Bảng 4.1 và Bảng 4.2).
  • Yếu tố nội tại của cộng đồng: Ý thức tự giác tộc người, tính cố kết cộng đồng và sự chủ động của người dân trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật, cách tân phương thức sản xuất.
  • Phát triển của lực lượng sản xuất và ứng dụng khoa học kỹ thuật: Áp dụng cơ giới hóa nông nghiệp, công nghệ sinh học (giống mới), kỹ thuật tưới tiết kiệm nước và công nghệ truyền thông.
  • Giao lưu, tiếp biến văn hóa: Tác động của quá trình cộng cư, đan xen văn hóa giữa người Chăm với người Kinh, Raglai và quá trình đô thị hóa, hội nhập kinh tế khu vực.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và thực tiễn

  • Về lý luận: Luận án góp phần kiểm chứng và làm phong phú thêm các lý thuyết Dân tộc học - Nhân học về biến đổi xã hội, thuyết chuyển dịch cơ cấu và thuyết diễn ngôn trong bối cảnh cụ thể của một cộng đồng tộc người thiểu số tại Việt Nam qua 40 năm xây dựng và Đổi mới đất nước.
  • Về thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống dữ liệu định tính và định lượng về thực trạng biến đổi kinh tế, cấu trúc xã hội và văn hóa của người Chăm tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận giai đoạn 1975 - 2015.
    • Làm rõ cơ chế vận động, tính quy luật và mối tương quan giữa các yếu tố kinh tế, văn hóa vật chất, cấu trúc dòng họ mẫu hệ và văn hóa tinh thần của người Chăm dưới tác động của chính sách quản lý nhà nước.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tiếp tục hoàn thiện các chính sách dân tộc đặc thù, đồng bộ hóa các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào Chăm.
  • Đầu tư kiên cố hóa hệ thống thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi thích ứng với điều kiện khô hạn đặc thù của vùng Nam Trung Bộ; quy hoạch và hỗ trợ vốn, thị trường cho các làng nghề thủ công truyền thống (gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp).
  • Tăng cường quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và trí thức là người Chăm tại cơ sở.
  • Bảo tồn các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể (lễ hội, kiến trúc, chữ viết Chăm) gắn liền với phát triển du lịch sinh thái - nhân văn; kết hợp hài hòa luật tục Chăm với pháp luật hiện hành trong quản lý xã hội tại các thôn, làng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu tại hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận (vùng Chăm Panduranga), chưa mở rộng khảo sát so sánh thực địa tại các cộng đồng Chăm ở khu vực Nam Bộ (An Giang, Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh) và nhóm Chăm H'roi (Bình Định, Phú Yên). Ngoài ra, do khoảng cách địa lý giữa cơ quan nghiên cứu (TP.HCM) và địa bàn điền dã, tần suất quan sát tham dự thực địa bị giới hạn trong các đợt công tác định kỳ trong năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh liên vùng giữa các nhóm Chăm tại Việt Nam và cộng đồng Chăm tại các nước Đông Nam Á; đi sâu phân tích tác động dài hạn của biến đổi khí hậu, làn sóng di cư lao động tự do và chuyển đổi số đối với sự biến đổi cấu trúc gia đình mẫu hệ và bảo tồn văn hóa Chăm sau năm 2015.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học, Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam.
    • Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc và tôn giáo: Ban Dân vận Trung ương, Ủy ban Dân tộc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Sở Nội vụ, Ban Dân tộc và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tại các tỉnh Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Khung phương pháp luận kết hợp xử lý dữ liệu định lượng (300 bảng hỏi xử lý qua phần mềm SPSS) với kỹ thuật phỏng vấn sâu và quan sát tham dự trong nghiên cứu biến đổi tộc người.
    • Hệ thống tư liệu điền dã, bảng biểu thống kê chi tiết về hiện trạng kinh tế nông nghiệp vùng khô hạn, sự biến đổi của các thiết chế xã hội mẫu hệ và thực trạng làng nghề truyền thống của người Chăm.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chọn khảo sát chuyên sâu tại những địa bàn cụ thể nào?
Luận án tiến hành điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu tại 3 địa bàn trọng điểm: thị trấn Phước Dân (huyện Ninh Phước, Ninh Thuận), xã Phước Nam (huyện Thuận Nam, Ninh Thuận) và xã Phan Thanh (huyện Bắc Bình, Bình Thuận); kết hợp khảo sát bổ trợ tại các xã Phước Thái, Phước Hữu (Ninh Thuận), Phan Hòa và Phan Hiệp (Bình Thuận).

2. Các chính sách lớn nào của Đảng và Nhà nước được xác định là yếu tố tác động then chốt đến biến đổi của người Chăm trong luận án?
Ba văn bản chỉ đạo trực tiếp và xuyên suốt được luận án phân tích gồm: Chỉ thị 121/CT/TW (ngày 26/10/1981 của Ban Bí thư), Thông tri 03-TT/TW (ngày 17/10/1991 của Ban Bí thư) và Chỉ thị 06/2004/CT-TTg (ngày 18/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ) về công tác đối với đồng bào dân tộc Chăm.

3. Cơ cấu mẫu điều tra định lượng của luận án được phân bổ như thế nào?
Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu hệ thống với tổng số 300 bảng hỏi, phân bổ 200 phiếu tại tỉnh Ninh Thuận (thị trấn Phước Dân và xã Phước Nam) và 100 phiếu tại tỉnh Bình Thuận (xã Phan Thanh), toàn bộ dữ liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS.

4. Xu hướng biến đổi giữa các thành tố kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm diễn ra có đồng đều không?
Theo kết quả nghiên cứu của luận án, sự biến đổi diễn ra không đồng đều: lĩnh vực kinh tế và văn hóa vật chất biến đổi nhanh và mạnh mẽ hơn; trong khi cấu trúc tổ chức xã hội (quan hệ dòng họ, chế độ mẫu hệ) và văn hóa tinh thần (tín ngưỡng, lễ hội truyền thống) có tốc độ biến đổi chậm hơn và duy trì tính ổn định, bền bỉ hơn.

5. Theo số liệu tác giả trích dẫn, dân số người Chăm tại Ninh Thuận và Bình Thuận chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong cả nước vào năm 2015?
Theo số liệu thống kê năm 2015 của Ban Dân vận Trung ương được dẫn trong luận án, tổng dân số người Chăm cả nước là 161.729 người, trong đó Ninh Thuận có 67.274 người và Bình Thuận có 34.690 người; hai tỉnh này chiếm 101.964 người (tương đương hơn 63% tổng dân số người Chăm cả nước).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lý Hoàng Nam là công trình nghiên cứu Dân tộc học hệ thống hóa toàn diện quá trình biến đổi kinh tế, văn hóa và xã hội của người Chăm tại Ninh Thuận và Bình Thuận trong giai đoạn 1975 - 2015. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết hiện đại (Inglehart, Syrquin, Comte, Foucault) với phương pháp định lượng và định tính thực chứng, luận án đã làm rõ các quy luật chuyển dịch sinh kế, sự thích ứng của cấu trúc xã hội mẫu hệ và sự biến đổi văn hóa dưới tác động của chính sách đổi mới. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học có giá trị cho công tác nghiên cứu dân tộc học và hoạch định chính sách phát triển bền vững vùng đồng bào Chăm.