Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Việt Nam sở hữu 3.260 km đường bờ biển cùng hệ thống đảo và quần đảo phong phú, tạo tiền đề cho sự phát triển của nhiều loại hình du lịch như nghỉ dưỡng biển, thể thao biển, du lịch biển đảo và du lịch văn hóa biển. Trong kho tàng di sản văn hóa vùng duyên hải, lễ hội Nghinh Ông giữ vị trí trọng tâm trong đời sống tâm linh của cộng đồng ngư dân. Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (được tác giả dẫn lại từ Báo Lao Động, 2018), cả nước có 7.966 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian. Lễ hội Nghinh Ông được tổ chức tại hầu hết các tỉnh ven biển từ Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ đến Tây Nam Bộ.

Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2227/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, nhấn mạnh việc ưu tiên phát triển sản phẩm du lịch đặc thù gắn với lễ hội, văn hóa tâm linh và di sản sông nước, biển đảo. Đến năm 2020, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 tiếp tục khẳng định định hướng phát triển du lịch văn hóa gắn liền với bảo tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hóa dân tộc.

Tuy nhiên, thực tế tổ chức lễ hội Nghinh Ông tại nhiều địa phương Nam Bộ bộc lộ những hạn chế: công tác quản lý chưa đồng bộ, chưa phát huy đầy đủ tính văn hóa và vai trò chủ thể của cộng đồng địa phương trong hoạt động du lịch, chưa đáp ứng nhu cầu trải nghiệm văn hóa tâm linh của du khách. Qua khảo sát tư liệu, tác giả nhận thấy các công trình trước đây chủ yếu miêu thuật lễ hội ở từng địa phương riêng lẻ hoặc tiếp cận dưới góc độ văn hóa dân gian thuần túy. Hầu như chưa có công trình chuyên sâu nào so sánh đối chiếu giữa lễ hội Nghinh Ông ở bờ biển phía Đông (thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, TP.HCM thuộc vùng Đông Nam Bộ) với bờ biển phía Tây (thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thuộc vùng Tây Nam Bộ) dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học ứng dụng trong phát triển du lịch bền vững. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định và tập trung giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội Nghinh Ông ở Nam Bộ gắn với phát triển du lịch trên cơ sở lý luận dân tộc học và quan điểm phát triển du lịch bền vững.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, luận án thực hiện 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nhận diện các giá trị, đặc trưng của lễ hội Nghinh Ông tại thị trấn Cần Thạnh và thị trấn Sông Đốc qua các chiều kích văn hóa, lịch sử, không gian địa lý và sinh kế biển, xác định các thế mạnh văn hóa phục vụ khai thác du lịch.
  2. Khảo sát thực trạng hoạt động tổ chức và khai thác du lịch tại hai địa bàn nghiên cứu theo định hướng phát triển du lịch bền vững và phát triển du lịch cộng đồng.
  3. Phân tích vai trò và sự tham gia của các bên liên quan (cộng đồng địa phương, du khách, cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp lữ hành, chuyên gia) trong quá trình bảo tồn và khai thác lễ hội.
  4. Xây dựng bản đồ định vị lễ hội Nghinh Ông ở Nam Bộ và bản đồ kết nối các điểm du lịch tại Cần Giờ và Trần Văn Thời bằng phần mềm chuyên dụng MapInfo nhằm hỗ trợ quản lý và tra cứu thông tin du lịch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội Nghinh Ông của người Việt ở Nam Bộ trong mối liên hệ với hoạt động phát triển du lịch.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào hai trường hợp nghiên cứu điển hình là thị trấn Cần Thạnh (huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện Đông Nam Bộ) và thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau - đại diện Tây Nam Bộ).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý dữ liệu điền dã dân tộc học, số liệu thống kê du lịch từ các địa phương khảo sát trong giai đoạn nghiên cứu đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chủ đề chính:

1. Nhóm công trình lý thuyết Dân tộc học, Nhân học và Nhân học du lịch

  • An Introduction to Tourism and Anthropology (1999) của Peter M. Burns: cung cấp góc nhìn nhân học về sự phát triển du lịch, đặc tính du khách và tác động văn hóa - xã hội.
  • Nhân học đại cương (2013, nhiều tác giả) và Cultural Anthropology: The Human Challenge (2017) của W. Haviland và cộng sự: đặt nền tảng phương pháp luận điền dã dân tộc học, lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết nghi lễ (nghi thức chuyển đổi, nghi thức tăng cường sức mạnh) và ứng dụng nhân học trong giải quyết vấn đề thực tiễn.
  • Các công trình của học giả Việt Nam như Ngô Thị Phương Lan (2014) về mối quan hệ môi trường và sinh kế biển tại huyện đảo Kiên Hải (Kiên Giang); Phan Thị Yên Tuyết (2014, 2020) nghiên cứu kinh tế, xã hội, văn hóa biển đảo Nam Bộ và phương pháp tiếp cận lời kể (narrative research), lịch sử qua lời kể (oral history), lịch sử cuộc đời (life history); Trần Hồng Liên (2014) về bảo tồn bản sắc văn hóa trong du lịch; Phan Hữu Dật (2018) về xu thế toàn cầu hóa và biến đổi văn hóa tộc người; Nguyễn Văn Sửu, Nguyễn Văn Huy, Lâm Bá Nam, Vương Xuân Tình (2016) về nghiên cứu và đào tạo nhân học tại Việt Nam.

2. Nhóm công trình về lễ hội truyền thống, lễ hội dân gian và lễ hội cộng đồng

  • Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng (chủ biên, 1994) Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại: đặt nền tảng lý luận về vai trò của lễ hội trong xã hội đương đại.
  • Huỳnh Quốc Thắng (2003, 2007): nghiên cứu Lễ hội dân gian ở Nam Bộ (khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc) và Khai thác lễ hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích tính dung hợp văn hóa và tiềm năng thương mại hóa du lịch của lễ hội.
  • Đinh Văn Hạnh và Phan An (2004) Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa - Vũng Tàu: chỉ ra sự hỗn dung giữa tín ngưỡng nông nghiệp và ngư nghiệp, quá trình bóc tách các lớp văn hóa của cộng đồng ven biển.
  • Sandra Lantz (2009) Whale Worship in Vietnam...: phân tích tục thờ cá Ông tại miền Trung dưới góc nhìn thuyết vật linh và phản ánh áp lực của du lịch nghỉ dưỡng lên không gian lăng miếu.
  • Các bài viết trong kỷ yếu Lễ hội cộng đồng: truyền thống và biến đổi (2014) của Nguyễn Thanh Long (lăng Ông Nam Hải - Khánh Hòa), Lê Thị Thanh Tâm (lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng - Tiền Giang), Dương Hoàng Lộc (lễ hội Nghinh Ông Ba Tri, Bình Đại - Bến Tre).
  • Các khảo sát của Võ Phúc Toàn (2013) về lăng Ông Thủy Tướng Cần Giờ; Lâm Nhân (2010) về lễ hội cổ truyền các huyện ngoại thành TP.HCM.

3. Nhóm công trình về tín ngưỡng, văn hóa biển đảo và lễ hội Nghinh Ông

  • Các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hương (2009), Trần Hồng (2014), Nguyễn Thanh Lợi (2014, 2015), Lê Minh và Phạm Đăng Cống (2014), Lê Văn Kỳ (2015), Lê Thế Vịnh (2015), Phan Thị Kim (2017) về phong tục thờ cá Ông, tín ngưỡng thờ thủy thần và văn hóa duyên hải từ Bắc Trung Bộ vào Nam Bộ.
  • Tuyển tập Văn hóa biển đảo Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa dân gian (Vũ Quang Dũng tuyển chọn, 2017), nổi bật có bài viết của Nguyễn Anh Cường về lễ hội Nghinh Ông thị trấn Sông Đốc với phát triển du lịch; Phan Đình Dũng và Nguyễn Thị Thu Hà về xây dựng thương hiệu biển.
  • Bộ sách Văn hóa biển đảo Việt Nam do Bùi Hoài Sơn (Tập 9, 2018), Nguyễn Chí Bền (Tập 1, 2019), Đinh Văn Hạnh (Tập 6, 2019 - vùng Đông Nam Bộ), Phạm Lan Oanh (Tập 7, 2019 - vùng Nam Bộ) chủ biên: phân tích đặc trưng văn hóa biển, thực trạng quản lý và chính sách bảo vệ di sản.
  • Đề tài khoa học cấp Bộ Bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội thờ cúng cá Ông ở Trung Bộ và Nam Bộ gắn với phát triển du lịch do Nguyễn Thị Thu Trang làm chủ nhiệm (2019).
  • Các công trình chuyên khảo của Trần Hồng Liên (2004), Phan Thị Yên Tuyết (2014), Nguyễn Phước Bảo Đàn (2016), Trương Thu Trang (2017), Huỳnh Lứa và cộng sự (2017).

4. Nhóm công trình về phát triển du lịch bền vững và quản lý di sản

  • Phạm Trung Lương (chủ nhiệm, 2002) Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam: công trình cấp Nhà nước xây dựng hệ thống tiêu chí, mô hình và giải pháp phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam.
  • Tài liệu quốc tế: David Weaver (2006) Sustainable Tourism: Theory and Practice; Peter P. Rogers, Kazi F. Jalal, John A. Boyd (2008) An Introduction to Sustainable Development; UNWTO (2013) Sustainable Tourism for Development Guidebook; C. Michael Hall, Stefan Gössling, Daniel Scott (2015) The Routledge Handbook of Tourism and Sustainability; Stephen F. McCool, Keith Bosak (2016) Reframing Sustainable Tourism; Akhmad Saufi và cộng sự (2017) với các bài nghiên cứu về nhận thức cộng đồng tại Bali (Peita Hillman et al.) và sự tham gia của công chúng tại Malaysia (Ami Abdul Gani et al.).
  • Các hội thảo và ấn phẩm trong nước: Kiều Thị Vân Anh, Đoàn Mạnh Cương, Phạm Trung Lương (2015); Nguyễn Thị Thống Nhất (2016); Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016); Đặng Hoàng Lan, Phạm Thị Thu Nga (2017); Kỷ yếu hội thảo quốc tế năm 2018 của Trường ĐH Văn hóa TP.HCM với các tham luận của Nguyễn Quang Giải, Ngô Văn Hà, Trần Văn Thận, Đoàn Văn Trai, Lê Thị Minh Lý.

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cá Ông và phát triển du lịch bền vững tương đối lớn, các nghiên cứu trước đây chưa thực hiện việc so sánh trực tiếp hai địa bàn mang tính đại diện cho hai vùng sinh thái - văn hóa khác biệt của Nam Bộ (Cần Thạnh - Đông Nam Bộ và Sông Đốc - Tây Nam Bộ). Luận án của Trịnh Minh Chánh khỏa lấp khoảng trống này bằng cách phân tích cơ cấu tổ chức, thực trạng liên kết tuyến điểm du lịch, sự tham gia của các bên liên quan và đề xuất khung giải pháp quản lý - khai thác dựa trên tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu (GSTC) và các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp các lý thuyết chuyên ngành Dân tộc học / Nhân học và Du lịch học:

[Khung phân tích của luận án]
  1. Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Được vận dụng để nhận diện các thành tố cấu thành lễ hội Nghinh Ông (phần lễ, phần hội, chủ thể thực hành, thiết chế lăng miếu) và vai trò của lễ hội trong việc duy trì trật tự xã hội, cố kết cộng đồng ngư dân trước những rủi ro của môi trường sinh kế biển.
  2. Lý thuyết nghi lễ trong Nhân học: Vận dụng các khái niệm về nghi thức chuyển đổi (rites of passage) và nghi thức tăng cường sức mạnh (rites of intensification). Nghi thức "ra biển Nghinh Ông" được phân tích như một biểu hiện tăng cường tính liên kết xã hội, giải tỏa tâm lý căng thẳng, âu lo của ngư dân trước thiên tai và tái khẳng định niềm tin tâm linh vào vị thần bảo hộ (Nam Hải Đại Tướng Quân / Thủy Tướng).
  3. Lý thuyết phát triển bền vững và du lịch bền vững: Căn cứ báo cáo Brundtland (1987), định nghĩa của UNWTO, Luật Du lịch Việt Nam 2017 và các bộ tiêu chí quốc tế (GSTC, SDGs). Luận án đánh giá sự cân bằng giữa 3 trụ cột: hiệu quả kinh tế cho cộng đồng/doanh nghiệp; bảo tồn tính chân xác văn hóa - công bằng xã hội; và bảo vệ môi trường sinh thái biển - rừng ngập mặn.
  4. Lý thuyết du lịch dựa vào cộng đồng (CBT): Xem cộng đồng địa phương là chủ thể sáng tạo, thực hành di sản và là bên thụ hưởng trực tiếp các lợi ích kinh tế - văn hóa từ hoạt động du lịch lễ hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kết hợp nghiên cứu định tính dân tộc học làm chủ đạo với các kỹ thuật khảo sát định lượng xã hội học:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học (Ethnographic Fieldwork):
    • Quan sát tham dự (Participant Observation): Tác giả trực tiếp tham gia các nghi thức tế lễ, đoàn thuyền rước Nghinh Ông trên biển, các hoạt động phần hội và sinh hoạt đời thường của cư dân tại Cần Thạnh và Sông Đốc trong các kỳ lễ hội (được ghi chép tại Phụ lục 7: Trích nhật ký điền dã).
    • Phỏng vấn sâu (In-depth Interview): Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc để phỏng vấn các nhóm đối tượng (được lưu trữ tại Phụ lục 6: Trích biên bản phỏng vấn và dữ liệu khảo sát), bao gồm: Ban trị sự Lăng Ông Thủy Tướng Cần Thạnh, Ban trị sự Lăng Ông Nam Hải Sông Đốc, các bô lão, vạn trưởng, ngư dân lớn tuổi, cán bộ Sở Du lịch TP.HCM, Sở VH-TT&DL tỉnh Cà Mau, lãnh đạo UBND thị trấn, hướng dẫn viên du lịch và giám đốc các công ty lữ hành (PTX, Skytravel, Fiditour, Cà Mau Travel, Happy Tourist, Ánh Nguyệt Cà Mau...).
    • Thảo luận nhóm tập trung (Focus Group Discussion - FGD): Thực hiện với các nhóm ngư dân, tiểu thương, hộ kinh doanh dịch vụ du lịch tại hai thị trấn để ghi nhận ý kiến về cơ chế chia sẻ lợi ích và những trở ngại trong mùa lễ hội.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát (Phụ lục 8) để thu thập ý kiến định lượng của khách du lịch và cộng đồng địa phương về chất lượng dịch vụ, kênh tiếp cận thông tin, mức độ hài lòng, chi tiêu và nhận thức về bảo tồn di sản.
  • Phương pháp nghiên cứu lịch sử và phân tích văn bản: Khảo cứu các văn bản Hán - Nôm, sắc phong triều Nguyễn, nội dung văn tế (Phụ lục 2), thư tịch cổ, số liệu báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của địa phương.
  • Phương pháp so sánh Dân tộc học: So sánh đối chiếu có hệ thống giữa hai trường hợp Cần Thạnh và Sông Đốc về lịch sử hình thành, quy trình nghi lễ, đặc điểm không gian, mức độ tham gia của cộng đồng và hiệu quả khai thác du lịch.
  • Phương pháp ứng dụng công nghệ GIS (Bản đồ học): Sử dụng phần mềm MapInfo để số hóa, xây dựng bản đồ định vị không gian phân bố lễ hội Nghinh Ông ở Nam Bộ (Phụ lục 3), bản đồ tuyến điểm du lịch gắn với lễ hội và ẩm thực tại huyện Cần Giờ và huyện Trần Văn Thời (Phụ lục 1, Phụ lục 9).

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu đã xuất bản, báo cáo tổng kết của Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch TP.HCM, Sở VH-TT&DL tỉnh Cà Mau, niên giám thống kê huyện Cần Giờ và huyện Trần Văn Thời.
  • Tư liệu sơ cấp: Dữ liệu điền dã thực địa, 264 trang phụ lục bao gồm các biên bản phỏng vấn sâu, nhật ký điền dã, phiếu điều tra khảo sát, tư liệu ảnh minh họa (Phụ lục 10) và bài cúng văn tế thực địa.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án và cung cấp bức tranh toàn cảnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa của hai địa bàn khảo sát.

  • Khái niệm và cơ sở lý luận: Luận án chuẩn hóa hệ thống khái niệm: Nghi lễ (Ritual), Lễ hội truyền thống, Di sản văn hóa phi vật thể, Tài nguyên du lịch văn hóa, Phát triển bền vững (Sustainable Development) và Phát triển du lịch bền vững (Sustainable Tourism Development). Tác giả khẳng định lễ hội Nghinh Ông không thuần túy là hoạt động tôn giáo - tín ngưỡng dân gian mà là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị cao, đòi hỏi mô hình quản trị kết hợp giữa bảo tồn nguyên vẹn tính thiêng và phát huy giá trị kinh tế.
  • Địa bàn thị trấn Cần Thạnh (huyện Cần Giờ, TP.HCM): Nằm ở phía Đông Nam TP.HCM, tiếp giáp biển Đông, có hệ sinh thái Rừng ngập mặn Cần Giờ (Khu Dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận năm 2000). Cư dân Cần Thạnh có truyền thống làm nghề đánh bắt thủy hải sản, cào nghêu, làm muối. Lăng Ông Thủy Tướng Cần Thạnh là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của ngư dân huyện Cần Giờ, có lịch sử gắn liền với quá trình khai phá vùng đất duyên hải Đông Nam Bộ.
  • Địa bàn thị trấn Sông Đốc (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau): Nằm ở bờ biển phía Tây (vùng Tây Nam Bộ), cửa sông Đốc thông ra Vịnh Thái Lan. Đây là một trong những đô thị biển sầm uất, là cửa biển lớn và trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá quy mô hàng đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Lăng Ông Nam Hải Sông Đốc là nơi lưu giữ ngọc cốt cá Ông và tổ chức lễ hội Nghinh Ông có quy mô thu hút hàng chục nghìn lượt tàu thuyền, ngư dân khắp các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng.

Chương 2: Giá trị và thực trạng lễ hội Nghinh Ông ở Nam Bộ gắn với phát triển du lịch

Chương 2 là phần nội dung thực chứng trọng tâm, so sánh giá trị và thực trạng khai thác du lịch tại hai địa bàn.

1. Giá trị của lễ hội Nghinh Ông

Lễ hội Nghinh Ông tại Cần Thạnh và Sông Đốc chứa đựng 5 nhóm giá trị cốt lõi:

  • Giá trị cố kết cộng đồng: Lễ hội là dịp tập hợp ngư dân, củng cố tình làng nghĩa xóm, chia sẻ kinh nghiệm đi biển, liên kết các vạn chài và nghiệp đoàn tàu thuyền.
  • Giá trị cân bằng đời sống tâm linh: Giải tỏa những âu lo hiểm nguy của nghề biển, tạo niềm tin vào sự che chở của Thần Nam Hải trước sóng gió.
  • Giá trị hướng về nguồn cội: Tưởng nhớ công đức tiền nhân, các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai hoang lập ấp, mở mang nghề biển.
  • Giá trị bảo lưu và trao truyền bản sắc văn hóa dân tộc: Gìn giữ các hình thức diễn xướng dân gian, hát bả trạo, trò chơi dân gian, nghi thức rước kiệu, nghệ thuật ẩm thực biển.
  • Giá trị kinh tế và tài nguyên du lịch: Đóng vai trò là hạt nhân thu hút khách du lịch, thúc đẩy các ngành dịch vụ thương mại, lưu trú, ăn uống, vận tải phát triển.

2. Bảng so sánh đặc trưng lễ hội Nghinh Ông tại hai địa bàn

Dưới đây là bảng tổng hợp các nét tương đồng và khác biệt giữa lễ hội Nghinh Ông Cần Thạnh và Sông Đốc dựa trên dữ liệu chương 2:

Tiêu chí so sánh Lễ hội Nghinh Ông Cần Thạnh (Cần Giờ, TP.HCM) Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc (Trần Văn Thời, Cà Mau)
Vị trí địa lý & Không gian Vùng Đông Nam Bộ, bờ biển phía Đông, gắn với rừng ngập mặn Cần Giờ Vùng Tây Nam Bộ, bờ biển phía Tây, cửa sông lớn thông ra Vịnh Thái Lan
Thời gian tổ chức Rằm tháng 8 âm lịch hàng năm (14 - 17/8 ÂL, trùng dịp Tết Trung thu) Ngày 14 - 16 tháng 2 âm lịch hàng năm
Tên cơ sở thờ phụng Lăng Ông Thủy Tướng Lăng Ông Nam Hải
Quy mô đoàn tàu rước Đội tàu thuyền được kiểm soát chặt chẽ, giới hạn số lượng tham gia diễu hành biển vì an toàn luồng lạch Hàng trăm tàu cá công suất lớn kết đoàn ra khơi, không khí hội nhập rộn ràng mang đậm tính chất thương cảng biển Tây
Đặc trưng phần hội Kết hợp lễ hội Đèn hoa đăng Tết Trung thu, biểu diễn lân sư rồng, triển lãm ảnh, trò chơi dân gian vùng ngập mặn Diễu hành tàu thuyền trên sông Đốc, các trò chơi dân gian sông nước, giao lưu đờn ca tài tử
Khách du lịch mục tiêu Du khách đô thị từ nội thành TP.HCM, các tỉnh lân cận đi tour ngắn ngày hoặc trong ngày Du khách hành hương tâm linh, ngư dân từ các tỉnh ĐBSCL (Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang...)
Tình trạng công nhận di sản Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia (năm 2013) Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia (năm 2021)

3. Thực trạng khai thác du lịch và số liệu thống kê

Chương 2 trình bày hệ thống bảng biểu thống kê đánh giá sự tăng trưởng khách và doanh thu du lịch:

  • Tại Cần Thạnh (TP.HCM): Lượng khách đến lễ hội tăng đều qua các năm (thể hiện qua Bảng 2.4: Lượt khách đến lễ hội Nghinh Ông ở Cần Thạnh và Bảng 2.2, 2.3 về tổng thể du lịch TP.HCM). Lễ hội được TP.HCM nâng cấp thành sự kiện văn hóa - du lịch tiêu biểu cấp thành phố, có sự hỗ trợ của các doanh nghiệp lữ hành lớn tại TP.HCM trong việc thiết kế tour kết hợp Cần Thạnh với các điểm lân cận (Biểu đồ 2.3: Các điểm du lịch ở huyện Cần Giờ và lân cận như Rừng Sác, đảo Khỉ, khu du lịch Vàm Sát).
  • Tại Sông Đốc (Cà Mau): Lượng khách hành hương và ngư dân đổ về trong 3 ngày lễ hội rất lớn (thể hiện qua Bảng 2.7: Lượt khách đến lễ hội Nghinh Ông ở Sông Đốc và Bảng 2.5, 2.6 về du lịch Cà Mau), đóng góp quan trọng vào doanh thu thương mại - dịch vụ địa phương. Tuy nhiên, tính chất mùa vụ quá cao dẫn đến tình trạng quá tải hạ tầng đột biến.

4. Thuận lợi, khó khăn và hạn chế trong tổ chức du lịch

Qua phân tích thực trạng (Bảng 2.8, Biểu đồ 2.1, Biểu đồ 2.2), tác giả chỉ ra các rào cản chính:

  • Cơ sở hạ tầng lưu trú, giao thông kết nối đến điểm diễn ra lễ hội còn hạn chế (đặc biệt là phà Bình Khánh tại Cần Giờ và các tuyến đường bộ về Sông Đốc).
  • Tình trạng ô nhiễm môi trường r