Giáo trình Các dân tộc Việt Nam - TS. Nguyễn Phương Thảo, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội

Giáo trình các dân tộc Việt Nam cung cấp hệ thống kiến thức toàn diện về nguồn gốc, văn hóa truyền thống và đời sống của 54 dân tộc anh em.

Chuyên ngành

Dân tộc học

Tác giả

Nguyễn Phương Thảo, Đào Thanh Thái

Thể loại

Giáo trình

2019

148
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Giáo trình Các dân tộc Việt Nam ĐH Công nghiệp Hà Nội

Giáo trình Các dân tộc Việt Nam do Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội xuất bản năm 2019 là công trình đào tạo chuẩn mực. Nhóm tác giả do Tiến sĩ Nguyễn Phương Thảo làm chủ biên cùng Thạc sĩ Đào Thanh Thái trực tiếp biên soạn. Sách hướng tới đối tượng sinh viên ngành Việt Nam học, Du lịch và khối ngành xã hội nhân văn. Nội dung cung cấp kiến thức nền tảng về Dân tộc học và Nhân học văn hóa. Cấu trúc tài liệu gồm ba chương logic từ lý thuyết đến thực tiễn sinh động. Chương đầu trình bày khái niệm nền tảng cùng lịch sử hình thành ngành học. Chương tiếp theo phác thảo đặc trưng nhân chủng, ngôn ngữ và phân bố dân cư. Phần trọng tâm đi sâu vào sáu vùng văn hóa tộc người trên toàn quốc. Các vùng tiêu biểu gồm Đông Bắc, Tây Bắc, đồng bằng châu thổ sông Hồng và duyên hải miền Trung. Tài liệu cũng phân tích chi tiết vùng Trường Sơn - Tây Nguyên cùng khu vực Nam Bộ trù phú. Tác phẩm phản ánh chân thực bản sắc văn hóa từng cộng đồng bản địa. Sinh viên dễ dàng nắm bắt quy luật biến đổi văn hóa qua từng thời kỳ lịch sử.

1.1. Mục đích biên soạn và đối tượng đào tạo

Tài liệu hướng đến mục tiêu chuẩn hóa chương trình đào tạo đại học. Sách trang bị hệ thống tri thức tổng hợp cho người học khối ngành Du lịch. Sinh viên nắm vững kỹ năng giải mã các biểu hiện văn hóa vật thể và phi vật thể. Giáo trình tạo nền tảng vững chắc phục vụ việc xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa. Người học hình thành thái độ tôn trọng bản sắc đa dạng của 54 dân tộc anh em. Ý thức bảo tồn di sản truyền thống được bồi đắp xuyên suốt từng bài giảng. Nhóm tác giả kết hợp chặt chẽ giữa lý luận nhân học và kinh nghiệm giảng dạy thực tế. Tài liệu đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập và nghiên cứu chuyên sâu.

1.2. Kết cấu ba chương và hệ thống tri thức cốt lõi

Cấu trúc giáo trình chia thành ba chương với tính liên kết khoa học cao. Chương một làm rõ các khái niệm cơ bản về dân tộc và tộc người. Phần này phân định ranh giới giữa Dân tộc học và Nhân học văn hóa hiện đại. Chương hai cung cấp cái nhìn khái quát về nguồn gốc lịch sử cư dân Việt Nam. Các ngữ hệ cùng nhóm địa phương được phân loại rành mạch theo tiêu chí nhân học. Chương ba chiếm dung lượng lớn nhất nhằm miêu tả sáu vùng văn hóa tiêu biểu. Mỗi vùng tập trung phân tích các tộc người giữ vai trò trung tâm lan tỏa. Nội dung phản ánh từ phương thức mưu sinh đến đời sống tín ngưỡng dân gian. Cách trình bày mạch lạc giúp người đọc hệ thống hóa kiến thức nhanh chóng.

II. Vấn đề phân hóa xã hội ở Giáo trình Các dân tộc Việt Nam

Giáo trình chỉ rõ những chuyển biến xã hội sâu sắc giữa các cộng đồng dân tộc hiện nay. Sự chênh lệch mức độ phát triển kinh tế xuất hiện rõ nét giữa vùng đồng bằng và miền núi. Người Kinh cùng một số nhóm cư dân thung lũng sở hữu nhiều điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Ngược lại, đồng bào vùng rẻo cao thường gặp nhiều khó khăn về giao thông và tài nguyên sinh kế. Bên cạnh đó, tính chất cư trú co cụm truyền thống đang dần bị phá vỡ. Nhiều biến cố lịch sử và kinh tế làm thay đổi mạnh mẽ không gian sống của các tộc người. Việc xây dựng các đại công trình thủy điện lớn như Hòa Bình hay Sơn La tạo ra làn sóng di dân quy mô rộng. Hàng vạn hộ đồng bào thiểu số phải di dời đến các địa bàn tái định cư mới. Ngoài ra, sức ép dân số và suy thoái môi trường gây thiếu hụt đất canh tác nghiêm trọng. Tình trạng này thúc đẩy các dòng di cư tự do từ phía Bắc vào Tây Nguyên. Mối liên kết cộng đồng cũ rạn nứt, làm nảy sinh nhiều thách thức mới về mặt văn hóa.

2.1. Biến động không gian sinh tồn và lãnh thổ tộc người

Lãnh thổ tộc người là phạm trù lịch sử biến đổi không ngừng theo thời gian. Không gian cư trú có thể mở rộng, thu hẹp hoặc thay đổi do nhiều yếu tố tác động. Chiến tranh, thiên tai và áp lực tìm kiếm nguồn thức ăn trực tiếp phân tán địa bàn sinh sống. Trong quá khứ, hiện tượng đồng hóa tự nhiên hay cưỡng bức từng làm thu hẹp nhiều vùng lãnh thổ văn hóa. Ngày nay, các ranh giới hành chính và quá trình đô thị hóa làm biến đổi tập quán định cư lâu đời. Nhiều nhóm người chuyển dịch ra khỏi vùng rừng núi nguyên thủy để hòa nhập vào trung tâm thị tứ. Quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra mạnh mẽ dẫn đến nguy cơ mai một bản sắc truyền thống.

2.2. Tác động từ làn sóng di dân và phát triển công nghiệp

Các dự án thủy điện quy mô lớn tạo bước ngoặt lớn về mặt kinh tế nhưng gây nhiều xáo trộn xã hội. Hàng vạn gia đình thuộc các tộc Hmông, Dao, Thái phải rời bỏ bản làng quê hương. Việc di chuyển đến các vùng tái định cư làm đứt gãy môi trường sinh thái quen thuộc. Người dân phải thay đổi hoàn toàn tập quán canh tác nông nghiệp nương rẫy sang trồng lúa nước hoặc hoa màu. Song song đó, tình trạng thiếu đất tại miền núi phía Bắc thúc đẩy dòng người vào Tây Nguyên. Sự xuất hiện của các cộng đồng mới tại vùng đất mới nảy sinh xung đột về tài nguyên rừng và đất ở. Văn hóa bản địa của người Gia Rai, Ba Na đứng trước áp lực giao thoa dữ dội.

III. Phương pháp tiếp cận của Giáo trình Các dân tộc Việt Nam

Giáo trình xây dựng phương pháp tiếp cận khoa học liên ngành hiện đại. Nhóm tác giả kết hợp chặt chẽ giữa dân tộc học lịch sử và nhân học thực địa. Phương pháp điền dã dân tộc học đóng vai trò then chốt trong việc thu thập dữ liệu gốc. Các chuyến khảo sát thực tế tại vùng sâu, vùng xa mang lại nhiều nguồn tư liệu quý báu. Phương pháp liên ngành cho phép đánh giá toàn diện đời sống cộng đồng tộc người. Các công cụ kinh tế học, địa lý nhân văn và ngôn ngữ học được phối hợp đồng bộ. Nhờ đó, người học phân tích thấu đáo cấu trúc xã hội của từng tộc người cụ thể. Giáo trình cũng đề xuất giải pháp bảo tồn văn hóa gắn với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Chính sách hỗ trợ cần xuất phát từ đặc điểm văn hóa và môi trường sống của từng vùng. Nhà nước cần kết hợp bảo tồn di sản với khai thác du lịch văn hóa có trách nhiệm. Giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng là giải pháp cốt lõi để giữ gìn di sản lâu bền.

3.1. Phương pháp điền dã và khảo sát liên ngành

Điền dã dân tộc học là phương pháp thu thập dữ liệu trực tiếp tại thực địa. Các tác giả dành nhiều thời gian quan sát và phỏng vấn sâu người dân bản xứ. Mọi thông tin về lễ hội, phong tục, nghi lễ vòng đời đều được ghi chép chuẩn xác. Bên cạnh đó, việc vận dụng tri thức liên ngành tạo nên góc nhìn đa chiều. Nhân học văn hóa kết hợp chặt chẽ với sử học giúp truy nguyên nguồn gốc cộng đồng. Xã hội học hỗ trợ đo lường tác động của chính sách kinh tế đối với đời sống cư dân. Dữ liệu thực tế phản ánh bức tranh sinh động vượt khỏi lý thuyết giáo điều. Nhờ vậy, tài liệu đạt hàm lượng khoa học cao và mang giá trị ứng dụng lớn.

3.2. Giải pháp bảo tồn di sản gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn văn hóa tộc người đòi hỏi chiến lược hài hòa giữa gìn giữ và khai thác. Giải pháp hàng đầu là thúc đẩy mô hình du lịch cộng đồng bền vững. Khách du lịch trực tiếp trải nghiệm nếp sống, ẩm thực và âm nhạc truyền thống bản địa. Người dân địa phương trở thành chủ thể thụ hưởng lợi ích kinh tế từ chính di sản. Điều này tạo động lực tự giác bảo vệ trang phục và tiếng nói mẹ đẻ. Song song đó, việc bảo tồn cần đi liền với các chính sách an sinh xã hội thiết thực. Hạ tầng giao thông, trường học và trạm y tế vùng sâu phải được đầu tư đồng bộ. Khi đời sống vật chất đảm bảo, đồng bào mới có điều kiện gìn giữ các giá trị tinh thần.

IV. Giá trị ứng dụng từ Giáo trình Các dân tộc Việt Nam HaUI

Giáo trình Các dân tộc Việt Nam của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội khẳng định giá trị thực tiễn nổi bật. Tác phẩm không chỉ phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy mà còn là tài liệu tham khảo đắt giá. Những người làm nghiên cứu văn hóa và hoạch định chính sách dân tộc tìm thấy nhiều luận cứ thuyết phục. Trong ngành du lịch, tài liệu hỗ trợ thiết kế các sản phẩm văn hóa giàu chiều sâu bản sắc. Hướng dẫn viên du lịch có cơ sở tri thức chính xác để truyền tải câu chuyện di sản tới du khách. Người học xây dựng tư duy nhân văn sâu sắc trước sự phong phú của truyền thống dân tộc. Đồng thời, giáo trình trang bị năng lực phân tích khoa học để giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp. Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố mạnh mẽ qua từng trang sách. Đây thực sự là cẩm nang học thuật mẫu mực cho thế hệ trẻ trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.

4.1. Ứng dụng trong phát triển du lịch và lữ hành

Kiến thức nhân học tộc người là nền tảng sống còn của ngành du lịch. Giáo trình cung cấp dữ liệu xác thực về tập quán đón khách và nghi lễ tâm linh. Các doanh nghiệp lữ hành dựa vào đây để xây dựng các tour du lịch di sản độc đáo. Hướng dẫn viên tránh được các lỗi diễn giải sai lệch về văn hóa bản địa. Hoạt động du lịch nhờ vậy bảo tồn được tính nguyên bản thay vì thương mại hóa thô thiển. Du khách được tương tác văn hóa văn minh và thấu hiểu chiều sâu phong tục địa phương. Sự am hiểu này gia tăng sức hút và định vị thương hiệu du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.

4.2. Định hướng bảo tồn văn hóa và chính sách dân tộc

Tác phẩm đem lại giá trị tham vấn quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách. Dữ liệu nhân học giúp cơ quan quản lý nhận diện đúng nhu cầu bức thiết của người dân. Các chương trình phát triển kinh tế miền núi tránh được cách tiếp cận áp đặt chủ quan. Việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết và tri thức dân gian được triển khai khoa học hơn. Giáo trình khuyến khích trao quyền cho đồng bào trong công tác quản lý tài nguyên địa phương. Văn hóa truyền thống trở thành nội lực thúc đẩy tiến bộ xã hội thay vì là rào cản phát triển. Nhận thức đúng đắn này củng cố khối đại đoàn kết bền vững giữa các dân tộc anh em.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/10/2026
Giáo trình các dân tộc việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Mục tiêu: Sau khi học chương này, người học có thể: - Hiểu được một số khái niệm cơ bản: dán tộc học, dân tộc, tộc người. - Xác định được đối tượng và phương pháp nghiên cứu Dân tộc học. - Nắm được các nhiệm vụ cơ bản của ngành Dẫn tộc học - Phân tích được mối quan hệ liên ngành trong Dân tộc học. - Trình bày được các tiêu chí xác định thành phần tộc người.

KHÁI NIỆM , ĐỐI TƯ ỢNG VÀ NH IỆM v ụ CỦA DÂN T ộ c HỌC 1. Một Số khái niệm cơ bản - Dãn tộc học (Ethnoỉosy) Trước đây, Dán tộc học được coi là một ngành của khoa học lịch sử, nghiên cứu toàn diện về các tộc người, rtr nguồn gốc, sự phân bố, đến kinh tế, văn hoá, xă hội; các quan hệ qua lại về lịch sừ - văn hoá - xã hội giữa các tộc người. Thoạt đầu, dân tộc học có lợi thế nhằm vào việc nghiên cứu các dân tộc thuộc các lãnh thồ ngoài châu Âu, chù yếu là các dân tộc chậm phát triển; tuy nhiên, những quan niệm đó ngày nay đã trờ nên lỗi thời. Sự thừa nhận rộng răi trong các nhà khoa học hiện nay đều cho rằng, dân tộc học nghiên cứu tất cả các dân tộc trên thế giới, dù ờ thang bậc phát triển thấp hay cao, thiểu số hay đa số, đã tồn tại trong quá khứ hay đang tồn tại hiện nay.

Ngày nay, thuật ngữ dân tộc học được dùng phổ biến ở các nước phương Tây là Nhân học xã hội (Social anthropology) hay Nhâìĩ học văn hóa (Cultural anthropology). Song dù được hiêu theo nghĩa nào, dân tộc học nói chung vẫn chù yếu nhằm đến đối tượng nghiên cứu là con người. Như vậy, Dán tộc học gồm hai thành tố gốc Hy Lạp: Ethnos (tộc người) và Graplĩo (miêu tả, mô tà), là một môn khoa học miêu tả về các tộc người trên thế giới. - Dãn tộc (Nation) Ngay từ thế kỷ XVIII, trên thế giới hình thành một cộng đồng dân tộc mới: dân tộc tư bản chù nghĩa.

Trong giới khoa học và chính trị, phát sinh những cuộc tranh luận dai dẳng về hình thức cộng đồng dân tộc kiều mới này. Stalin: "Dân tộc là một khối cộng đồng người ồn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng vê tiếng nói về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biều hiện trong cộng đồng về văn hóa"'. ở Việt Nam, sau năm 1954, cuộc thảo luận về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam, từ năm 1955 kéo dài đến năm 1965 diễn ra rất sôi nồi, dựa vào khái niệm dân tộc của J. Stalin, có vận dụng vào thực tiễn Việt Nam.

Có nhiều quan điểm trái chiều được đưa ra, những người bám chặt định nghĩa của Stalin thì cho ràng, dân tộc Việt Nam chi mới được hình thành ưr khi mầm mổng của chủ nghTa tư bản xuất hiện, tiêu biểu như Nguyễn Lương Bích, Hoàng Xuân N h ị.; Ý kiến thứ hai cho ràng cần phải xem xét đến thực tiễn của Việt Nam, trước yêu cầu chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam hình thành sớm trước cả chủ nghĩa tư bàn. Tiêu biểu cho ý kiến này là Đào Duy Anh, Trần Huy Liệu, Minh Tranh. Tuy nhiên, các tác giả cùa cả hai loại ý kiến trên vẫn đều chưa thoát khòi định nghĩa có tính "kinh điển" cùa J. Năm 1966, đồng chí Lê Duẩn - cố Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam có nêu lên một quan điểm độc lập như sau: " ớ Việt Nam, dân tộc Việt Nam hinh thành từ khi lập nước, chứ không phái từ khi chù nghĩa tư bàn nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam"".

Ý kiến này ' S lalin , C h ú nịỉhìa M á c vù ván đ ề d ã n tộc, N x b. ^ L é D u án , T hanh n iê n v ớ i c á ch m ụnỊỉ x à h ộ i c h ú nỊỉÌiĩa. 176 xác định rõ quan điểm của Hồ Chí Minh coi "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một". Lâu nay, trong các tài liệu khoa học, tài liệu chính trị - xã hội và các sách báo đại chúng, ta thường bắt gặp các rtr như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Chăm, dân tộc Ê-đê, dân tộc Tày, các dân tộc thiểu số, dân tộc đa số.

Trong nhiều trường hợp, nội hàm của các thuật ngữ này đều không được xác định rõ ràng và gây khó khăn cho người đọc. Những thành tựu của khoa học dân tộc học kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay đã dần đi đến chỗ làm sáng tỏ hơn về các khái niệm này. Hoàng Nam, frong cuốn Đại cương Nhân học văn hóa Việt Nam, dân tộc là một khối cộng đồng người được hình thành trong lịch sử. Dân tộc học hiện nay nêu lên ba tiêu chí quan trọng đê xác định một dân tộc: Tên gọi dân tộc; tiếng nói dân.

tộc; phong tục tập quán dân tộc. Ba tiêu chí đó nói lên sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, ờ nước ta, ưr trước đến nay thuật ngữ dân tộc đang được hiểu theo hai nghTa: Chì tàng dân tộc cụ thể trong 54 dân tộc; chi tất cả 54 dân tộc gộp lại. Do hai nghĩa như trên, 'cho nên đề chi từng dân tộc cụ thể, sau thuật ngừ dân tộc, các nhà nghiên cứu dân tộc học, thường chú thích thêm là Ethnic. Còn khi dùng thuật ngữ dân tộc để chi 54 dân tộc gộp lại, thường được chú thích thèm là Nation.

Chừ Nation thường có nghía gắn với quốc gia. Một số nhà nghiên cứu Dân tộc học muốn thay một thuật ngừ khác đề chi 54 dân tộc gộp lại. Chăng hạn như Vương Hoàng Tuyên (1973) nêu ra thuật ngữ quồc tộc nhưng cho tới nay, chưa đạt được sự đồng thuận'. Mặc dù thuật ngừ "dân tộc" được sừ dụng chính thức trong Hiến pháp (1992) và trong nhiều văn bản pháp luật khác của nhà nước ta.

H o àn g N am , Đ ạ i c tn m g n h â n h ọ c vàn h ó a Viự! N am , N xb. K h oa h ọ c xã hụi Hà N ội. tuy nhiên trong nghiên cứu khoa học, một số nhà nghiên cứu lại thường dùng thuật ngữ "tộc người" thay cho thuật ngữ "dân tộc". Đã từ lâu, ở Việt Nam có sự lẫn lộn khi sử dụng các khái niệm này.

Ngoài dùng để chì toàn bộ cộng đồng 54 tộc người hay quốc gia dân tộc (dân tộc Việt Nam), khái niệm "dân tộc" còn được dùng để chi một tộc người cụ thể (như dân tộc Thái, dân tộc Hmông, dân tộc Dao, dân tộc Ê-đê.); dùng để chì các tộc người thiểu số, như người dân tộc, học siĩíh dân tộc, vùng dân tộc. (nếu chính xác phải gọi là người dân tộc íhiểu số, học sinh dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số.); dùng để chi truyền thống, như món ăn dân tộc, văn hóa dân tộc, bản sắc dân tộc. Việc dùng khái niệm "dân tộc" với nhiều cách hiểu như trên rtr lâu đã ãn sâu trong fhói quen, ý thức cùa các tầng lớp cư dân là không chuẩn về mặt khoa học, rất khó khắc phục được. Bời vậy, cần thống nhất với cách hiểu thuật ngữ "dân tộc" (nation) là để chỉ một cộng đồng chính trị của nhiều tộc người có nguồn gốc lịch sử khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cùng sống trong một quốc gia, được quản lý bởi một nhà nước chung, tạo lập nên một nên văn hóa chung.

Chẳng hạn như, khi ta gọi dân tộc Việt Nam được hiểu là quốc gia Việt Nam với một thể chế chính trị nhất định, có lãnh thô, tiếng nói giao tiếp chung giữa các tộc người trong một quốc gia, có cùng vận mệnh lịch sử và ý thức tự giác của mỗi thành viên bên cạnh ý thức về tộc người của minh. Đó là một cộng đồng chính trị - xă hội. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều là quốc gia đa tộc người, nghĩa là trong phạm vi lãnh thồ quốc gia đó bao gôm các tộc người đa số và thiéu số. Thông thường, sẽ có một tộc người đóng vai trò là tộc người chù thế, chiếm số lượng lớn dân số trong quôc gia.

Chẳng hạn như, người Việt (Kinh) ở Việt Nam, người Thái ở Thái Lan, người Í3iếc-ma (Miến) ờ Miến Điện, người Khơ-me ở Cam -pu-chia, người Láo Lùm ơ Lào, người Mã ờ Ma-lai-xi-a. Tuy nhiên, ờ một số quốc gia, chi bao gồm một cộng đồng tộc người như Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Theo đó, khái niệm dân tộc (nation) được hiểu là quốc gia dân tộc, trong đó bao gồm nhiều tộc người, được hình thành trong lịch sử, ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường lấy ngôn ngữ của tộc người đa số là quốc ngữ, đồng thời có chung một lãnh thổ, cùng chung một vận mệnh lịch sử, gắn bó vận mệnh cùa các tộc người riêng với vận mệnh chung của quốc gia, cùng chung một nền văn hóa vừa thống nhất vừa đa dạng cùa quốc gia đa tộc người. - Tộc người (Ethnos) Tộc người là một thuật ngữ chi mới xuất hiện rất muộn trong giới khoa học, do Vacher de Lapouge đặt ra rtr cuối thế kỳ XIX (1896).

Ban đầu, thuật ngữ đó dùng để chi các nhóm tộc người hay đơn vị tộc người. Trong một thời gian dài, nó vẫn nhằm chi những cộng đồng người chưa đạt đến trình độ văn minh nhất định, thậm chí chưa đến trình độ tự mình đứng ra hay tập hợp các cộng đồng người khác thành lập một quốc gia dân tộc. Theo Từ điển Nhản học^\ Nhóm tộc người, tộc người là những thuật ngữ được dùng để chi một dân tộc được xem là thuộc về cùng một xã hội, chia sẻ cùng một nền văn hóa, có cùng một ngôn ngữ, được lun truyền rtr thế hệ này qua thế hệ khác không thay đôi. Tộc người nhằm chi các cộng đồng mang tính tộc người bất kỳ, kể cả các cộng đồng tộc người chủ thể cùa một quốc gia, hay các cộng đồng tộc người thiều số ở các vùng ngoại vi.

Một tộc người thông thường là thành phần cấu thành cùa một quốc gia - dân tộc. Tóm lại, tộc người là hinh thái đặc thù cùa một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trinh phát triền cùa tự nhiên V iện D ân tộc học. Từ điền n h ản //()<;■ (b án dịch tiếng V iệt). và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản, mang tính ốn định và tương đối bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử là: ngôn ngữ.

văn hóa và ỳ thức tự giác về cộng đồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Phương Thảo, Đào Thanh Thái (2019), Giáo trình Các dân tộc Việt Nam, Giáo trình, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.
APA 7
Nguyễn, P. T., & Đào, T. T. (2019). Giáo trình Các dân tộc Việt Nam [Giáo trình, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/giao-trinh-cac-dan-toc-viet-nam/9387333875
IEEE
P. T. Nguyễn and T. T. Đào, "Giáo trình Các dân tộc Việt Nam," Giáo trình, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, 2019. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/giao-trinh-cac-dan-toc-viet-nam/9387333875

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác