phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính luận án gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Tri thức địa phƣơng về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất. Chƣơng 3: Tri thức địa phƣơng về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên nƣớc. Chƣơng 4: Tri thức địa phƣơng về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên rừng.
Chƣơng 5: Tài nguyên thiên nhiên và tri thức địa phƣơng đối mặt với xã hội hiện đại. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Về các khái niệm tri thức địa phƣơng và nguồn tài nguyên thiên nhiên 1. Về các khái niệm tri thức địa phương Có liên quan đến khái niệm tri thức địa phƣơng là khái niệm tri thức bản địa.
Thuật ngữ “tri thức bản địa” lần đầu xuất hiện trong một công trình nghiên cứu của Robert Chambers phát hành năm 1979. Tiếp theo đó Brokensha và D.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay [179, tr. Trong những năm gần đây ở Việt Nam, cụm từ “tri thức địa phƣơng” (Local Knowledge) hay “tri thức bản địa” (Indigenous Knowledge), “tri thức truyền thống”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc ngƣời”… đã đƣợc sử dụng ngày càng phổ biến trong một số công trình nghiên cứu. Lê Trọng Cúc đồng nhất “tri thức địa phƣơng” với “văn hoá truyền thống” [27]; Ngô Đức Thịnh gọi là “tri thức dân gian”, “tri thức địa phƣơng”, “tri thức bản địa [143]; Hoàng Xuân Tý cho rằng cả ba khái niệm “kiến thức bản địa”, “kiến thức truyền thống” hay “kiến thức địa phƣơng” gần đồng nghĩa với nhau [179].
Nguyễn Duy Thiệu gọi là “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức của ngƣời bản địa” [140]; Phạm Quang Hoan gọi là “tri thức địa phƣơng”, “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian” [76-78]; Vi Văn An [1], Trịnh Hồng Lệ [89] gọi là “tri thức dân gian”; Phạm Đức Dƣơng [38], Trần Công Khánh, Trần Văn Ơn [86], Nguyễn Bảo Đồng [47], Nguyễn Xuân Hồng [79-80], Bùi Hoài Sơn [124], Vũ Trƣờng Giang [54-55], Nguyễn Thị Thu Hà [67], Nguyễn Thị Quy [120].v… gọi là “tri thức bản địa”; Hoàng Hữu Bình [13], Đặng Thị Hoa [75], Trần Hồng Hạnh [70], Trần Bình [16], Vũ Thanh Hiền [72], Mai Văn Tùng [173-176], Nguyễn Thị Thanh Nga [106], Nguyễn Thị Thu [154].v… gọi là “tri thức địa phƣơng”. Từ những cách gọi khác nhau nhƣ trên, các nhà nghiên cứu Việt Nam và nƣớc ngoài cũng có những quan niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của “tri thức địa phƣơng”.TS Lê Trọng Cúc cho rằng: Tri thức địa phƣơng hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của cộng đồng cƣ dân bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau. Tri thức địa phƣơng đƣợc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trƣờng xã hội, đƣợc hình thành dƣới nhiều dạng khác nhau, đƣợc truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội. Nó hƣớng đến việc hƣớng dẫn và điều hoà các quan hệ xã hội, quan hệ con ngƣời với thiên nhiên [29, tr.TS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con ngƣời về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích luỹ trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứng môi trƣờng.
Nó tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội [153, tr.TS Phạm Quang Hoan cho rằng: Tri thức địa phƣơng đƣợc hiểu ở các cấp độ khác nhau. Một là, “tri thức địa phƣơng” (hay tri thức bản địa), “tri thức dân gian”, “tri thức tộc ngƣời”) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc ngƣời nhất định đƣợc tích luỹ, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc ngƣời sinh tồn, phát triển và thích nghi trƣớc những biến đổi đã và đang diễn ra. Nói cách khác, tri thức địa phƣơng là phƣơng thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc ngƣời.
Cũng có thể coi đó là bản sắc văn hoá tộc ngƣời. Hai là, “tri thức địa phƣơng” là tri thức của các cộng đồng tộc ngƣời cùng cộng cƣ trên một vùng sinh thái hay một vùng văn hoá nhất định. Trong trƣờng hợp này, tri thức địa phƣơng cũng phản ánh xu hƣớng giao lƣu và biến đổi văn hoá hay thích nghi văn hoá giữa các tộc ngƣời [76, tr. TS Trần Hồng Hạnh cho rằng: Tri thức địa phƣơng đƣợc hiểu là các kiến thức bao gồm cả tri thức bản địa và tri thức truyền thống, đã đƣợc cƣ dân sống tại một địa bàn cụ thể tích luỹ, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và chịu tác động của kiến thức mới hiện đại.
Để thích ứng với môi trƣờng chuyển đổi, cả về mặt tự nhiên, kinh tế - xã 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội, và chính trị, ngƣời dân đã tích luỹ những kiến thức vốn có từ lâu đời kết hợp với việc áp dụng các kiến thức hiện đại vào cuộc sống thƣờng ngày của họ. Dần dần thông qua sự kết hợp này, các kiến thức mới cũng đƣợc ngƣời dân địa phƣơng hoá cho phù hợp với điều kiện môi trƣờng sống của họ và trở thành kinh nghiệm của họ. Do đó, tri thức địa phƣơng ngƣời nông dân luôn ở trạng thái động, thay đổi thông qua sự sáng tạo và đổi mới của ngƣời dân địa phƣơng cũng nhƣ trong mối liên hệ với các hệ thống tri thức khác [70, tr. Một số tác gỉa nƣớc ngoài nhƣ TS Jonh Amble thì cho rằng: Tri thức địa phƣơng có thể đƣợc phân biệt làm hai loại chính.
Một loại có thể đƣợc gọi là “tri thức kỹ thuật”. Một loại khác liên quan đến các tên gọi nhƣ: “Luật lệ địa phƣơng” hoặc là “Phong tục” hay “Tục lệ”… Sự nghiên cứu của nhiều vùng châu Á cho thấy rằng những ngƣời nông dân, ngƣời chăn thả gia súc hoặc các nhóm thợ săn ở vùng cao có vốn tri thức kỹ thuật của địa phƣơng rất to lớn, rất cần cho việc xây dựng các chƣơng trình quản lý, phát triển vùng đồi núi. Vốn hiểu biết đó là sự kết hợp hài hoà các điều kiện của địa phƣơng. Những nghiên cứu, đặc biệt là từ các lĩnh vực dân tộc - thực vật học đã cho thấy những ngƣời làm nông nghiệp ở vùng cao thƣờng có sự hiểu biết chi tiết về chế độ ẩm trong vùng, về tiềm năng của đất đai, về kỹ thuật trồng trọt, về chọn giống, về các loài động vật và thực vật…[84, tr.
Theo Louise Grenier cho rằng: Kiến thức bản địa (tri thức địa phƣơng) là kiến thức của bất kỳ một cộng đồng nào đó; nó đƣợc tồn tại bên trong và đƣợc phát triển trong những hoàn cảnh cụ thể của các tộc ngƣời. Tri thức địa phƣơng đƣợc tất cả các thành viên ở mọi lứa tuổi và giới khác nhau trong một cộng đồng tạo dựng lên. Tất cả mọi thành viên trong cộng đồng đã tạo nên sự khác biệt và chất lƣợng của tri thức địa phƣơng. Nó biểu hiện sự tích luỹ của các thế hệ giàu kinh nghiệm qua các quan sát tinh tế và các thử nghiệm công phu, đƣợc thể hiện trong các câu chuyện, bài ca, văn học dân gian, trong canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, hệ thống phân loại, luật tục, tín ngƣỡng, nghi lễ,…[212].
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Charles F.Keyes cho rằng: Hệ thống tri thức địa phƣơng đƣợc coi là các tƣ tƣởng thực nghiệm. Tƣ tƣởng thực nghiệm là cách con ngƣời phát triển các ý tƣởng, khái niệm và thái độ để thực hiện các hoạt động thƣờng ngày. Tƣ tƣởng thực nghiệm thúc đẩy các nhu cầu cấp thiết của cuộc sống nhƣ sản xuất lƣơng thực, thực phẩm, tổ chức không gian cƣ trú, duy trì các mối quan hệ xã hội…[Dẫn theo: 76, tr.v… Tóm lại, trên cơ sở ý kiến của nhiều nhà khoa học và kết quả nghiên cứu của mình, tác giả luận án cho rằng: Tri thức địa phƣơng (Local Knowledge) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm ứng xử của con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội ở những địa phƣơng, những khu vực cụ thể đƣợc tích luỹ, thực hành, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đƣợc bổ xung và phát triển trong đời sống. Nói cách khác, tri thức địa phƣơng là tri thức của các cộng đồng tộc ngƣời cùng cộng cƣ trên một vùng sinh thái hay một vùng văn hoá nhất định.
Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc ngƣời sinh tồn, phát triển và thích nghi trƣớc những biến đổi đã và đang diễn ra. Từ nội hàm các khái niệm trên, tri thức địa phƣơng có những đặc điểm sau: Thứ nhất, nó đƣợc hình thành, bảo tồn và trao truyền trong mỗi cộng đồng ở mỗi vùng địa lý - sinh thái và văn hoá nhất định. Thứ hai, nó là kiến thức đƣợc đúc kết qua thực nghiệm về tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Thứ ba, nó làm cơ sở cho sự sinh tồn của mỗi cộng đồng.
Thứ tƣ, nó không đƣợc ghi lại bằng văn bản một cách hệ thống, do đó nó có tính truyền khẩu và tính địa phƣơng. Thứ năm, nó có tính động, giao lƣu, tiếp biến, đổi mới, bổ xung trong đời sống thông qua sự sáng tạo cũng nhƣ đúc rút kinh nghiệm để thích nghi của ngƣời dân. Về hai khái niệm sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đƣợc hiểu trong luận án này là: Sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên là sự ứng xử của con ngƣời với các nguồn tài nguyên thông qua sự hiểu biết, thông qua những kinh nghiệm thực hành đƣợc đúc kết trong quá trình khai thác các nguồn tài nguyên. Quản lý là sự ứng xử 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với các nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua các thiết chế (quan phƣơng, phi quan phƣơng) nhƣ quy ƣớc, luật tục, tín ngƣỡng, luật pháp.
Nhìn chung, tri thức địa phƣơng trong sử dụng và trong quản lý tài nguyên thiên nhiên của ngƣời Mƣờng có mối quan hệ mật thiết với nhau, mục đích cuối cùng là bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh tình trạng cạn kiệt, đồng thời duy trì sự đa dạng sinh học và bảo tồn hệ sinh thái.