Năng lực quản trị rủi ro giáo dục đại học: Nghiên cứu tại ĐH Nội vụ Hà Nội

Tìm hiểu năng lực quản trị rủi ro tại các cơ sở giáo dục đại học, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

2022

120
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của năng lực quản trị rủi ro trong giáo dục đại học

Năng lực quản trị rủi ro là khả năng của các cơ sở giáo dục đại học trong việc xác định, đánh giá và kiểm soát những nguy cơ tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục, đào tạo và quản trị của nhà trường. Trong bối cảnh hiện nay, khi các cơ sở giáo dục đối mặt với những thách thức về tài chính, công nghệ, pháp luật và nhân sự, việc xây dựng năng lực quản trị rủi ro trở thành yếu tố then chốt để đảm bảo sự bền vững và phát triển bền vững. Các đại học cần có chiến lược toàn diện, tổ chức bộ máy hiệu quả và quy trình quản lý rủi ro chuyên nghiệp nhằm bảo vệ tài sản, uy tín và chất lượng giáo dục.

1.1. Định nghĩa quản trị rủi ro trong cơ sở giáo dục

Quản trị rủi ro là quy trình hệ thống gồm các bước: xác định rủi ro, phân tích mức độ, đánh giá tác động, và thiết kế biện pháp ứng phó. Trong bối cảnh giáo dục đại học, quản trị rủi ro không chỉ bảo vệ tài chính mà còn bảo đảm chất lượng đào tạo, an toàn cho sinh viên và cán bộ, tuân thủ quy định pháp luật và duy trì uy tín xã hội của nhà trường.

1.2. Các loại rủi ro chính trong hoạt động đại học

Các cơ sở giáo dục đại học thường đối mặt với rủi ro tài chính (tài trợ, chi phí), rủi ro học thuật (chất lượng giáo dục, công nhân lực), rủi ro pháp luật (không tuân thủ quy định), rủi ro công nghệ thông tin (an toàn dữ liệu), và rủi ro nhân sự (duy trì đội ngũ giảng viên). Hiểu rõ những loại rủi ro này giúp nhà trường chủ động đề phòng và ứng phó hiệu quả.

II. Các thành phần chính của năng lực quản trị rủi ro

Năng lực quản trị rủi ro của cơ sở giáo dục đại học bao gồm nhiều thành phần liên kết với nhau. Trước tiên là năng lực xây dựng chiến lược quản trị rủi ro từ cấp cao nhất, đảm bảo sự cam kết của lãnh đạo. Thứ hai, tổ chức bộ máy quản trị rủi ro cần rõ ràng với các bộ phận, vai trò và trách nhiệm cụ thể. Thứ ba, đội ngũ nhân lực phải có kỹ năng và kiến thức chuyên môn trong quản trị rủi ro. Thứ tư, hạ tầng công nghệ thông tin hỗ trợ việc thu thập, xử lý và báo cáo dữ liệu rủi ro. Cuối cùng, các quy trình và công cụ quản trị rủi ro phải được vận hành hiệu quả, bao gồm xác định, phân tích, đánh giá và giám sát rủi ro.

2.1. Chiến lược quản trị rủi ro và cam kết lãnh đạo

Một chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả bắt đầu từ tầm nhìn, sứ mạng rõ ràng của nhà trường. Lãnh đạo phải thể hiện cam kết mạnh mẽ về quản trị rủi ro, phân bổ nguồn lực đủ và tạo nền tảng văn hóa tổ chức hỗ trợ quản lý rủi ro tích cực. Các chính sách và quy định cần được ban hành rõ ràng để hướng dẫn toàn bộ tổ chức.

2.2. Tổ chức bộ máy và hệ thống giám sát rủi ro

Cần thiết lập một bộ máy quản trị rủi ro với các chức năng rõ ràng. Ban lãnh đạo cần thành lập ban quản trị rủi ro hoặc ủy ban, có các bộ phận chuyên trách hoặc bán chuyên trách chịu trách nhiệm giám sát, phân tích và báo cáo tình hình rủi ro. Hệ thống giám sát phải liên tục và toàn diện, bao phủ tất cả các lĩnh vực hoạt động.

III. Thực trạng năng lực quản trị rủi ro tại các đại học Việt Nam

Hiện nay, nhiều cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế trong năng lực quản trị rủi ro. Nhận thức về tầm quan trọng của quản trị rủi ro vẫn chưa đầy đủ, đặc biệt ở cấp quản lý giữa. Việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro còn mang tính hình thức, chưa thực sự được triển khai toàn diện. Bộ máy quản trị rủi ro chưa được tổ chức chuyên sâu, thường được giao cho một vài cá nhân kỳ cạp mà không có đủ tài nguyên. Đội ngũ nhân lực có kiến thức chuyên môn về quản trị rủi ro vẫn thiếu, nhiều cán bộ chưa được đào tạo thích hợp. Công nghệ thông tin hỗ trợ quản trị rủi ro chưa được ứng dụng rộng rãi, các quy trình và công cụ quản lý rủi ro chưa được chuẩn hóa.

3.1. Nhận thức và cam kết trong xây dựng năng lực quản trị rủi ro

Nhận thức của các cơ sở giáo dục đại học về năng lực quản trị rủi ro vẫn chưa đủ sâu sắc. Nhiều nhà trường coi quản trị rủi ro là yêu cầu hành chính chứ không phải là công cụ quản lý chiến lược. Cam kết từ lãnh đạo còn hạn chế, việc phân bổ ngân sách cho quản trị rủi ro chưa đủ. Cần thay đổi nhận thức, nâng cao sự hiểu biết về giá trị của quản trị rủi ro trong hoạt động giáo dục.

3.2. Hạn chế về nhân lực và cơ sở hạ tầng

Hạn chế lớn nhất là thiếu nhân lực chuyên môn về quản trị rủi ro. Nhiều cơ sở giáo dục không có nhân viên chuyên trách hoặc chỉ có một người phụ trách vấn đề này. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng nhu cầu, nhiều nhà trường vẫn sử dụng các công cụ quản lý rủi ro thủ công, không tích hợp. Cần đầu tư vào đào tạo nhân lực và nâng cấp công nghệ thông tin để hỗ trợ quản trị rủi ro.

IV. Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro cho cơ sở giáo dục đại học

Để nâng cao năng lực quản trị rủi ro, các cơ sở giáo dục đại học cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, cấp cao nhất phải thể hiện cam kết rõ ràng và lãnh đạo bằng tấm gương. Thứ hai, xây dựng hoặc hoàn thiện chiến lược quản trị rủi ro phù hợp với bối cảnh, mục tiêu của nhà trường. Thứ ba, thiết lập tổ chức bộ máy quản trị rủi ro chuyên sâu với các bộ phận, vai trò rõ ràng. Thứ tư, đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân lực, tăng cường kiến thức, kỹ năng quản trị rủi ro cho các cán bộ. Thứ năm, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại để hỗ trợ các quy trình quản trị rủi ro. Cuối cùng, xây dựng văn hóa tổ chức hỗ trợ quản trị rủi ro, khuyến khích đặc biệt là phát hiện và báo cáo rủi ro sớm.

4.1. Nâng cao nhận thức và cam kết lãnh đạo

Cần tổ chức các hội thảo, tập huấn để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của quản trị rủi ro. Lãnh đạo cơ sở giáo dục phải hiểu rõ rằng quản trị rủi ro là công cụ chiến lược, không phải chỉ là tuân thủ hành chính. Phải thể hiện cam kết thực tế bằng cách phân bổ ngân sách, nhân lực, và thời gian cho hoạt động quản trị rủi ro. Xây dựng văn hóa tổ chức trong đó tất cả nhân viên hiểu rằng quản trị rủi ro là trách nhiệm của mỗi người.

4.2. Phát triển nhân lực và ứng dụng công nghệ

Tuyển dụng hoặc đào tạo nhân viên chuyên trách quản trị rủi ro với yêu cầu bằng cấp phù hợp. Cần có các chương trình đào tạo liên tục để nâng cao kỹ năng, cập nhật kiến thức mới về quản trị rủi ro. Ứng dụng các công cụ, phần mềm quản lý rủi ro hiện đại để tự động hóa quy trình, cải thiện hiệu quả giám sát. Xây dựng hệ thống thông tin quản lý tích hợp để theo dõi rủi ro theo thời gian thực, hỗ trợ ra quyết định của lãnh đạo.

28/12/2025
Đề tài nghiên cứu khoa học năng lực quản trị rủi ro của cơ sở giáo dục đại học nghiên cứu từ thực tiễn trường đại học nội vụ hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Rủi ro Theo Vanerssa Manceron (2013), thuật ngữ rủi ro (RR) xuất hiện đầu tiên ở Ý vào thế kỷ thứ XIV để chỉ những trở ngại và hiểm hoạ trên biển. Đến thế kỷ XX, RR trở thành một vấn đề của xã hội đương đại và được nhiều ngành, lĩnh vực quan tâm nghiên cứu.

Trên thực tế, RR chủ yếu được nghiên cứu trong khu vực tư, ở một số lĩnh vực như kinh tế, bảo hiểm, ngân hàng, du lịch… và có hai cách hiểu như sau: Trường phái truyền thống quan niệm về RR theo hướng tiêu cực cho rằng, RR là khái niệm để chỉ những thiệt hại, tổn thất bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến. (2010) đưa ra quan niệm RR là “điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”. (1998), RR là “những bất trắc ngoài ý muốn, xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp”. Như vậy, “RR là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người” (Huân, N.

Theo quan điểm của trường phái trung hoà, RR là xác suất tác động đến mục tiêu không chỉ gắn liền với tổn thất, thiệt hại mà còn mở ra khả năng mang đến những thành công. và cộng sự (2009) định nghĩa RR là “tình huống của thế giới khách quan trong đó tồn tại khả năng xảy ra một sự sai lệch bất lợi so với kết quả được dự tính hay mong chờ” còn tác giả Vân, Đ. (2013) đưa ra khái niệm RR là “sự bất trắc có thể đo lường được, nó có thể tạo ra những tổn thất, thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời nhưng cũng có thể đưa đến những lợi ích cơ hội trong kinh doanh”. Như vậy, theo quan điểm của trường phái trung hoà, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.

Rủi ro có tính hai mặt: vừa tích cực, vừa tiêu cực. Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm, … Nhưng chính rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, ứng phó và kiểm soát rủi ro, người ta không chỉ tìm ra được những biện pháp phòng ngừa, né tránh mà còn có thể “lật ngược tình thế”, biến thủ thành công, biến bại thành thắng, biến thách thức thành những cơ hội, mang lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. 13 Tóm lại, ở những góc độ tiếp cận khác nhau, RR được định nghĩa khác nhau.

Đã có rất nhiều khái niệm về RR được đưa ra, tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, nhóm nghiên cứu thống nhất sử dụng khái niệm sau: “Rủi ro là ảnh hưởng của các yếu tố không chắc chắn đến mục tiêu của tổ chức”. Trong đó, tác động là một sự sai lệch so với dự kiến, tác động có thể tích cực hoặc tiêu cực; mục tiêu có thể có những khía cạnh khác nhau (như tài chính, sức khoẻ, an toàn và môi trường) và có thể áp dụng ở các cấp khác nhau (như chiến lược, toàn bộ tổ chức, dự án, sản phẩm và quá trình); sự không chắc chắn là tình trạng, thậm chí là một phần, thiếu hụt thông tin liên quan tới việc hiểu hoặc nhận thức về một sự kiện, hệ quả của sự kiện đó hoặc khả năng xảy ra của nó (ISO 31000:2018). Quản trị rủi ro Quản trị rủi ro đã được thực hiện một cách không chính thức từ thuở ban đầu của xã hội loài người. Người tiền sử tụ tập với nhau thành những bộ lạc để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, chia sẻ trách nhiệm và chống lại những bất trắc trong cuộc sống.

Giai đoạn đánh dấu sự ra đời của quản trị rủi ro hiện đại cả về học thuật lẫn thực tiễn là giai đoạn 1955 - 1964 (theo Snyder, 1991). Khi đó quản trị rủi ro chính thức mới có được một sự chấp nhận rộng rãi đối với cả những nhà thực hành lẫn những nhà nghiên cứu. Cho đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro (QTRR). Có nhiều trường phái nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm về QTRR rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau.

Trong quá khứ, nhiều tác giả cho rằng: QTRR chỉ đơn thuần là mua bảo hiểm, tức là chuyển một phần gánh nặng rủi ro có thể gặp phải sang cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Những người theo trường phái này giới hạn, chỉ quản trị những rủi ro “thuần túy”, “những rủi ro có thể phân tán”, “những rủi ro có thể mua bảo hiểm”. Nhóm người theo trường phái này đã định nghĩa: “QTRR là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách quản lý nhằm hạn chế các thiệt hại đối với tổ chức”. Theo quan điểm hiện đại, có thể tiếp cận khái niệm QTRR theo hai góc độ “quản trị” và “rủi ro”.

Trong đó, quản trị là quá trình hoạch định mục tiêu, chiến lược, kế hoạch mà đối tượng quản lý cần đạt được trong một giai đoạn nhất định, tổ chức thực hiện các chiến lược, các mục tiêu đó, quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong tổ chức một cách có hệ thống nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra. Còn rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được. QTRR là tập hợp các hoạt động hoạch định chiến lược và kế hoạch quản lý rủi ro, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động của tổ chức liên quan đến quản lý rủi ro sao 14 cho đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Ủng hộ quan điểm này, T.

Al-Thani (2011) cho rằng, QTRR là một quy trình cho phép xác định, đánh giá, hoạch định và quản lý các loại rủi ro. Do đó, QTRR hướng đến 3 mục tiêu chính: phải xác định được loại rủi ro, thực hiện phân tích một cách khách quan các loại rủi ro đặc thù, ứng phó với những loại rủi ro đó một cách phù hợp, hiệu quả. Cũng theo quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện”, khi nghiên cứu công cụ và kỹ thuật quản trị rủi ro doanh nghiệp, Robert J. Chapman (2011) cho rằng, QTRR doanh nghiệp (ERM) là 1 quy trình tích hợp và toàn diện để quản trị mọi loại rủi ro trong toàn doanh nghiệp nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp đó.

Ủng hộ quan điểm “quản trị rủi ro toàn diện”, tác giả Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự (2013) định nghĩa: “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro”. Kết hợp với quan điểm mới về RR, nhóm tác giả đã bổ sung và hoàn chỉnh khái niệm: “Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công”. Trong phạm vi bài viết này, nhóm nghiên cứu thống nhất sử dụng khái niệm về QTRR như trên. Đối với mọi tổ chức, QTRR là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

Thông thường, ở bất kể lĩnh vực nào, tổ chức luôn cần có tầm nhìn rõ ràng về các mức độ RR đối với tổ chức mình và cố gắng thiết lập một phạm vi chống chịu để có thể xử lý RR tốt hơn và thực hiện các biện pháp phù hợp khi cần thiết. Đây được coi là một trong những tiêu chuẩn chiến lược của tổ chức. QTRR hiệu quả không phải là loại bỏ RR, mà là lựa chọn cách thức tiếp nhận RR, thích ứng với RR, giảm thiểu tác động của RR hoặc biến những RR thành cơ hội để thành công. Cơ sở giáo dục đại học Theo khoản 1, điều 4, Luật số 34/2018/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học thì cơ sở giáo dục đại học được định nghĩa là “cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng”.

15 Khoản 4 quy định cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật. Đại học quốc gia, đại học vùng là đại học thực hiện nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ phát triển vùng của đất nước. Năng lực quản trị rủi ro của cơ sở giáo dục đại học Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, “năng lực là khả năng để thực hiện một hoạt động nào đó” (Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, 2013). Năng lực QTRR: Hiện nay, vẫn chưa có khái niệm cụ thể, thống nhất về năng lực QTRR.

Tuy nhiên, năng lực QTRR được hiểu là khả năng điều hành, giải quyết các RR. Qua quá trình tìm hiểu, nhóm nghiên cứu khái quát khái niệm về năng lực QTRR như sau: Năng lực QTRR là tổng hoà các nguồn lực nhằm tạo ra khả năng và điều kiện để các chủ thể có thể thực hiện việc hạn chế, kiểm soát các RR có thể xảy ra. Từ đó, nhóm nghiên cứu đi đến thống nhất khái niệm về năng lực QTRR của cơ sở giáo dục đại học như sau: Năng lực QTRR của cơ sở GDĐH là tổng hoà các nguồn lực của cơ sở giáo dục đại học nhằm tạo ra khả năng và điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện các hoạt động QTRR nhằm kiểm soát rủi ro, hạn chế các tổn thất có thể xảy ra đối với cơ sở giáo dục đại học. Các loại rủi ro và nguy cơ rủi ro trong cơ sở giáo dục đại học 1.

Đặc điểm của các cơ sở giáo dục đại học Cơ sở giáo dục đại học là tổ chức có tư cách pháp nhân, nên nó mang đầy đủ các đặc trưng của loại hình tổ chức này: + Cơ sở giáo dục đại học là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, có tên gọi bằng tiếng Việt; tên gọi thể hiện rõ loại hình tổ chức của pháp nhân và phân biệt với các pháp nhân khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Pháp nhân phải sử dụng tên gọi của mình trong giao dịch dân sự.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ