Chương 1: Tổng quan cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng năng lực nghề của người lao động trong hoạt động kinh tế ở xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Năng lực nghề của người lao động xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên: Nhu cầu phát triển và giải pháp. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Các khái niệm cơ bản được dùng trong luận văn Khái niệm nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực được định nghĩa từ nhiều phương diện khác nhau của kinh tế, nhân sự hành chính. Nguồn nhân lực có thể được xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương (tỉnh, thành phố.) và nó khác với các nguồn lực khác như tài chính, đất đai, công nghệ ở chỗ nguồn lực con người với lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi thế giới tự nhiên và làm nảy sịnh các quan hệ lao động, quan hệ xã hội. Nguồn nhân lực cũng có thể coi là nguồn nhân lực xã hội bởi xét theo nghĩa rộng nhất thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào.
Từ góc độ phân công lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm dân cư trong độ tuổi lao động được pháp luật mỗi quốc gia quy định. Về phương diện này, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động, ở nước ta đó là những người từ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động (bao gồm những người có việc làm và những người có khả năng lao động nhưng đang ở trong các tình trạng: đang thất nghiệp; đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình; không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động). Tóm lại, nguồn nhân lực của một quốc gia phản ánh các đặc điểm quan trọng sau: - Đó là nguồn lực con người. - Nguồn lực đó là một bộ phận dân số gắn liền với cung về lao động.
- Nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động của một xã hội [60, tr. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năng lực nghề: Năng lực là nói đến cái “vốn” của người lao động để thực hiện công việc theo tiêu chuẩn tương ứng (vốn này chỉ được biểu hiện khi người lao động tham gia vào một hoạt động, công việc) hay nói cách khác là: những phẩm chất, nhân cách cần có giúp con người lĩnh hội và hoàn thành một hoạt động nhất định với kết quả cao. Đơn giản hơn, năng lực được hiểu là sự tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao. Mỗi người lao động cần có 4 loại năng lực cơ bản đó là: năng lực nhận thức (chú ý, tài quan sát, trí tưởng tượng.), năng lực thực tiễn (thao tác máy móc, vận động.), năng lực giao tiếp diễn đạt và tổ chức quản lý.
Như vậy có thể nói năng lực nghề là cái vốn của người lao động về nghề. Khi nói đến năng lực nghề (còn được gọi là: kỹ năng có việc làm), là nói đến những kiến thức chuyên biệt về các nguồn thông tin, khả năng tiếp cận công nghệ, dịch vụ, quản lý cùng khả năng đánh giá có phê phán một cách hiệu quả, chọn lọc và sử dụng kiến thức này để hoàn thành những công việc cụ thể và đạt đến kết quả mong muốn. Năng lực nghề là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực (theo tài liệu 60, Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua 7 tiêu chí sau: (1) Sức khỏe; (2) Trình độ văn hóa; (3) Trình độ chuyên môn – kỹ thuật; (4) Năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp – khả năng thực tế về chuyên môn – kỹ thuật; (5) Tính năng động xã hội; (6) Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; (7) Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người lao động về cả vật chất lẫn tinh thần). Theo khuyến nghị 195 của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năng lực bao gồm: “các kiến thức, kỹ năng và bí quyết được áp dụng và làm chủ được trong một bối cảnh cụ thể”.
Còn trong cuốn sách “Tiêu chuẩn năng lực cho các nhà đánh giá”, Kim Jackson đã đưa ra quan niệm khá đầy đủ: năng lực bao gồm các đặc điểm về kiến thức, kỹ năng và sự áp dụng các kiến thức và kỹ năng đó đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của sự thực hiện trong việc làm [78, 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bất cứ năng lực nào cũng đều tích hợp những thành tố cơ bản là kiến thức, kỹ năng và thái độ: các kỹ năng thực hành, giao tiếp, giải quyết vấn đề và các kỹ năng trí tuệ; thái độ lao động nghề nghiệp; khát vọng học tập và cải thiện; khả năng thích ứng để thay đổi; khả năng áp dụng kiến thức vào công việc; ý thức và khả năng hợp tác, làm việc nhóm. Trong đó thành tố kỹ năng thực hành là biểu hiện cao nhất của năng lực. Quá trình hình thành năng lực phải gắn với luyện tập, thực hành theo các công việc thuộc nghề nào đó và bảo đảm thực hiện có hiệu quả.
Như vậy, bất cứ người lao động nào cũng có năng lực nghề và khác nhau ở cấp độ. Khi nói đến năng lực nghề, người ta chú trọng hơn về kỹ năng thực hành đối với công việc và liên quan mật thiết đến hiệu quả công việc. Một số ngành nghề có một khung đánh giá năng lực riêng, vì vậy, trong giới hạn luận văn này năng lực nghề chỉ đưa ra khái niệm để nhìn nhận chung về người lao động với nhiều ngành nghề dựa trên thành tố cơ bản của khái niệm và hiệu quả kinh tế, đời sống lao động. Đào tạo nghề: Theo tài liệu [60, tr49]: đào tạo nghề chính là các nội dung đào tạo nguồn nhân lực, bao gồm: (1) Đào tạo kiến thức nghề nghiệp; (2) Đào tạo kỹ năng nghề nghiệp; (3) Giáo dục phẩm chất, thái độ đối với nghề.
Trong từ điển tiếng Việt, khái niệm đào tạo được hiểu là việc “làm cho trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định” [48, tr. Có thể hiểu đào tạo là hoạt động trang bị cho người lao động năng lực theo một tiêu chuẩn để người lao động có năng lực và trở nên hữu ích trong một số công việc hoặc hoạt động xã hội. Các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam đưa ra khái niệm về đào tạo như sau: “đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội cần thiết” [36, tr. Cũng có những định nghĩa khác về đào tạo, các nhà kinh tế cho rằng đó là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định.
20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo tổ chức ILO, đào tạo nghề là “những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”. Khái niệm đào tạo nghề được định nghĩa cụ thể trong Luật Dạy nghề như sau: “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [44, điều 5]. Đối với người được đào tạo nghề thì đào tạo nghề (ĐTN) là quá trình thu nhận những kiến thức và kỹ năng mới nhằm đảm nhận một công việc cụ thể.
Với chức năng như quá trình giáo dục, ĐTN là một hoạt động nhằm tạo lập và phát triển những kỹ năng của con người phục vụ cho quá trình làm việc vì mục tiêu năng suất và hiệu quả lao động, đó là bất cứ 1 loại hình đào tạo nào được thiết kế để định hướng người lao động trong một vị trí nghề nghiệp nhất định. ĐTN cũng có những nhân tố sư phạm như các thiết chế giáo dục khác nhưng nhấn mạnh nhiều hơn vào khía cạnh kỹ thuật và công nghệ. ĐTN thể hiện rõ hơn sự cần thiết của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành cũng như thể hiện rõ sự liên quan mật thiết giữa nội dung, phương pháp đào tạo với những thay đổi diễn ra trong thế giới lao động. ĐTN không còn được xem là một giai đoạn ngắn trước khi bước vào quá trình lao động, mà ĐTN thực sự là một quá trình đào tạo lâu dài gắn liền với những hoạt động giáo dục khác nhau.
ĐTN hiện nay không còn chỉ là một hoạt động được định hướng nhằm rèn luyện cho người lao động những kỹ năng cần thiết cho việc đảm nhận một vị trí nghề nghiệp nhất định mà là thiết chế cung cấp và tăng cường những năng lực cần thiết cho người lao động tham gia vào một phạm vi rộng lớn hơn của thị trường lao động. Điều này xuất phát từ những thay đổi trong khuôn mẫu tổ chức lao động cũng như những thay đổi trong nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Thị trường lao 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động cũng ngày càng có nhiều biến động, người lao động luôn phải đối mặt với những thay đổi trong quá trình làm việc và để không bị bỏ lại sau lưng, không sớm trở nên thất nghiệp, người lao động không chỉ cần có vài kỹ năng hay kiến thức bó hẹp trong một phạm vi nhỏ mà trái lại họ cần có năng lực tổng hợp có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu phức tạp khác nhau của các vị trí nghề nghiệp trong thị trường lao động. Theo tác giả, khái niệm ĐTN như sau: “là trang bị kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành cho người lao động về một hoạt động nghề, một nghề”.
Và ĐTN gồm bất cứ 1 loại hình đào tạo nào nhằm nâng cao năng lực cho người lao động như tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo với khung thời gian tương ứng.