Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ CẤP HUYỆN 1. Khái quát chung về năng lực công chức Hội LHPN cấp huyện 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một từ ngữ rất trìu tượng, khó định lượng và có rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Năng lực được hiểu là khả năng điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có, phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
[21] Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của NXB Giáo dục (tái bản năm 2009) thì năng lực là khả năng làm việc tốt. [23] Theo từ điển tâm lý học “Năng lực là tập hợp các tính chất tâm lý cá nhân”, đóng vai trò điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một hoạt động nhất định. Những nghiên cứu tổng hợp các đặc điểm tâm lý khác nhau của năng lực cho phép phân loại năng lực chung (thỏa mãn đồng thời nhiều dạng hoạt động) và năng lực riêng (thích ứng với một dạng hoạt động nhất định). Cũng theo từ điển này, “năng lực làm việc” được định nghĩa là khả năng tiềm tàng của cá nhân nhằm hoàn thành một hoạ động với hiệu suất được đề ra trong một thời gian nhấ định.
Năng lực làm việc của con người luôn thay đổi vì trong quá trình làm việc con người luôn nghiên cứu tìm ra cái mới, tiếp cận với cái mới để thay thế ái cũ lạc hậu, lỗi thời. Theo tác giả Bùi Thế Vinh, trong cuốn “Một số thuật ngữ hành chính”, Nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2000 cho rằng: “Năng lực là thuật ngữ chỉ khả năng về th chất và trí tuệ của cá nhân con người hoặc khả năng của một tập th có tổ chức tự tạo lập và thực hiện được các hành vi ứng xử của Luan van 9 mình trong các quan hệ xã hội nhằm thực hiện được mục đích, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước ha chủ th khác ấn định với kết quả tốt nhất”.[22] Nói một cách tổng quát thì năng lực của con người là tổng hoà những điều kiện, những nhân tố chủ quan tiềm năng bên trong con người cùng tham gia vào công việc giải quyết, để xử lý một tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định. Có thể nói, năng lực bao giờ cũng được gắn với một chủ thể cá nhân nhất định. Chủ thể đó có thể là cá nhân, nhóm người hoặc tổ chức.
Năng lực của mỗi người được hình thành và tổng hợp qua rất nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng là những kiến thức có thể đào tạo được. Bên cạnh đó các yếu tố mà bản thân mỗi người phải rèn luyện và tích lũy đó chính là kinh nghiệm làm việc, cách giao tiếp ứng xử, các mối quan hệ trong công việc. Năng lực của một người phụ thuộc vào kỹ năng trong thực tế và thái độ trong công việc của người đó. Năng lực có thể hay đổi thông qua hoạt động.
Do vậy, người ta có thể chủ động tạo ra năng lực. Năng lực là sự kết hợp những tư chất tự nhiên vốn có của con người và những kết quả hoạt động của người đó. Như vậy có thể hiểu năng lực là khả năng đáp ứng được nhu cầu, nhiệm vụ mà cá nhân đảm nhận. Từ những luận điểm trên, có thể khái quát về năng lực như sau: “Năng lực là khả năng đáp ứng của chủ th về kiến thức, kỹ năng, thái độ một cách tốt nhất trong quá trình hoạt động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của công việc được giao”.
Năng lực của công chức nói chung luôn gắn với với chiến lược phát triển của tổ chức, với mục đích tổng thể, gắn với các lĩnh vực, điều kiện cụ thể. Năng lực liên quan chặt chẽ đến quá trình làm việc, phương pháp làm việc hiệu quả và khoa học công nghệ. Chính vì lẽ đó, năng lực làm việc của Luan van 10 công chức chính là khả năng của cán bộ, công chức để hoàn thành nhiệm vụ được giao trong các điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Các loại năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực 1.
Các loại năng lực - Năng lực lãnh đạo là khả năng đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên quần chúng thực hiện tốt mục tiêu, kế hoạch đã đề ra; - Năng lực quản lý là khả năng tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; - Năng lực thực hiện là khả năng hành động cụ thể của bản thân làm cho các yêu cầu trở thành hiện thực. Các yếu tố cấu thành năng lực Năng lực trong một con người được cấu thành bởi các nhân tố kiến thức, kỹ năng thực hiện công việc và thái độ trong công việc. Kiến thức: “ iến thức là tổng thể tri thức, hiểu biết mà một người lĩnh hội, tích luỹ qua trải nghiệm hoặc học hỏi”. [18] iến thức bao gồm kiến thức nghề nghiệp (kiến thức chuyên môn, kiến thức quản lý, kiến thức về lĩnh vực làm việc) và những kiến thức khác phục vụ hiệu quả cho công việc.
iến thức được tích lũy thông qua quá trình học tập, đào tạo, học hỏi tích lũy kinh nghiệm của mỗi cá nhân. iến thức bị ảnh hưởng bởi định hướng của mỗi cá nhân. Có thể thấy rằng kiến thức nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn có thể xác định và hình thành tiêu chuẩn được, nhưng những kiến thức liên quan khó đặt ra tiêu chuẩn để đánh giá và tương đối khó khăn trong việc xác định các tiêu chuẩn. Kỹ năng thực hiện công việc: “ ỹ năng là việc vận dụng tri thức khoa học kỹ thuật vào công việc thực tiễn”.
[23] ỹ năng mang yếu tố thực hành, mang tính đặc thù nghề nghiệp. iến thức và kỹ năng có thể cùng chiều hay ngược chiều nhau. Tức là, người có Luan van 11 kiến thức rộng có thể có kỹ năng thành thạo, hoặc người có kiến thức rộng nhưng không có kỹ năng thành thạo hoặc ngược lại. ỹ năng thực hiện công việc quyết định sự thành công nghề nghiệp, hay độ hiệu quả công việc.
Thái độ: là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai đó, với một công việc nào đó hay đơn giản có thể hiểu đó là cách hành động, suy nghĩ về ai, về một vấn đề nào đó; - Thái độ trong công việc: Thái độ là cách suy nghĩ (nhận thức), cách ứng xử (ý thức) trong công việc. - Thái độ - hành vi: “là thái độ hành vi cần thiết mà một cá nhân cần có để hoàn thành một hoạt động nào đó. Trong công việc, thái độ hành vi là cách hành động phù hợp để thực hiện một cấp độ việc làm cụ thể”. Thái độ làm việc ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá trình làm việc.
Tóm lại năng lực là sự kết hợp của 3 nhóm yếu tố: kiến thức, kỹ năng và thái độ. Ba nhóm yếu tố trên kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên năng lực của một cá nhân. Khái niệm công chức và năng lực công chức Hội Liên hiệp Phụ nữ cấp huyện 1. Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Khái niệm công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. hái niệm công chức ở Việt Nam được hình thành và gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền hành chính Nhà nước, và không ngừng được hoàn thiện, bổ sung qua các thời kỳ khác nhau; Dưới cách hiểu chung nhất: “Công chức là những công dân được tu n dụng vào làm việc thường xu ên trong cơ quan Nhà nước, do ngân sách Nhà Luan van 12 nước trả lương”. Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/ SL về “Quy chế công chức”, đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định công chức là: “những công dân Việt Nam được chính qu ền nhân dân tu n đ giữ một chức vụ thường xu ên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong ha ở ngoài nước, đều là công chức”.
Tại điều 1 sửa đổi bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức. Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật số: 52/2019/QH14 dựa theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp t nh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Như vậy, theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Năng lực công chức Hội Liên hiệp phụ nữ cấp huyện Năng lực công chức Hội cấp hu ện Là khả năng đáp ứng được nhu cầu, nhiệm vụ của tổ chức Hội mà công chức phải thực hiện, bao gồm: hả năng nhận thức, hiểu biết, đoàn kết, tập hợp, thu hút phụ nữ vào tổ chức Hội LHPN, khả năng tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác phụ nữ và tổ chức các hoạt động cho phụ nữ, đáp ứng các tiêu chuẩn chung trong chiến lược cán bộ thời kì đẩy mạnh công Luan van 13 nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh đó công chức Hội phải có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, có kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ công tác phụ nữ theo chuẩn chức danh; có kiến thức chung về các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội. Công chức Hội còn cần có năng lực ch đạo, tham mưu, đề xuất, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội. Có kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng tạo lập mối quan hệ, phối hợp hoạt động; có phương pháp vận động quần chúng.