Chương 1: Lý luận chung về NLCT của NHTM. Chương 2: Thực trạng NLCT của Agribank. Chương 3: Giải pháp nâng cao NLCT của Agribank. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1. Khái niệm về cạnh tranh Có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh, bao gồm cạnh tranh theo trường phái kinh tế học tổ chức (Porter, 1981), kinh tế học cạnh tranh độc quyền (Chamberlin, 1961) và kinh tế học Áo (Grimm và ctg, 2006). Kinh tế học tổ chức (Porter, 1980), gọi tắt là IO (Industrial Organization), được tổng quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành, vận hàng hay chiến lược của DN và kết quả KD của ngành, còn gọi là mô hình SCP (Structure – Conduct – Performance). Điểm then chốt của mô hình IO là kết quả KD phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu ngành mà các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau.
Cơ cấu của ngành sẽ quyết định hành vi (chiến lược KD) của doanh nghiệp và điều này sẽ dẫn đến kết quả KD ngành (Porter, 1981). Lê Minh Trường (2023) đã chỉ ra rằng cạnh tranh là quy luật tất yếu, là động lực để thúc đẩy kinh tế phát triển, là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp mà các DN phải chấp nhận mà không có sự lựa chọn nào khác. Do cách tiếp cận hay mục đích nghiên cứu khác nhau nên phát sinh nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đổi về phía mình”. Theo Từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là “ cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau”. Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để giành KH thị trường”. Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể KD, cuốn “Các hoạt động hạn chế cạnh tranh và hoạt động thương mại không lành mạnh” của Tổ chức thống nhất, tín thác vì người tiêu dùng (Ấn Độ) đã diễn tả: “Cạnh tranh trên thị trường là 9 quá trình ở đó nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành KH bằng các phương thức, biện pháp khác nhau”.
Thuật ngữ “cạnh tranh”, theo Từ điển KD xuất bản ở Anh năm 1992, được hiểu là “sự ganh đua, thù địch giữa các DN trên thị trường để tranh giành cùng một loại nguồn lực sản xuất hoặc cùng một loại KH cho mình. " Tương tự, Bách khoa toàn thư Việt Nam giải thích cạnh tranh kinh tế là hoạt động cạnh tranh giữa những người sản xuất, KD, KD trong nền kinh tế nhằm đạt được những điều kiện thuận lợi nhất cho sản xuất, tiêu dùng và thị trường. Vậy, cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông quan các hành động, nỗ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình. Cạnh tranh trong hoạt động KD của ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm cạnh tranh trong hoạt động KD ngân hàng thương mại Cạnh tranh trong lĩnh vực NH có tác động đến khả năng tiếp cận vốn của các DN, ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống tài chính và kinh tế với các tác động không rõ ràng. Theo quan điểm của lý thuyết vị thế thị trường (Boyd & De Nicolo, 2005), vị thế thị trường cao của các NH cho phép áp dụng lãi suất cao hơn cho các khoản vay, dẫn đến tăng nguy cơ xuất hiện hiện tượng rủi ro đạo đức (Moral Hazard) và lựa chọn bất lợi (Adverse Selection) vì chỉ các DN có rủi ro cao mới chấp nhận lãi suất vay cao. Do đó, điều này có thể tăng nguy cơ cho các NH trong việc thu hồi vốn/lợi nhuận. Có hai quan điểm đối lập trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài chính của các NH.
Quan điểm cạnh tranh – dễ tổn thương được đề xuất bởi (Keeley, 1990). Ý tưởng chính của quan điểm này là sự cạnh tranh của NH cao sẽ làm gia tăng rủi ro của NH và giảm mức độ ổn định tài chính của NH. Ví dụ, trong trường hợp cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận của các NH sẽ bằng không, và không có tiềm năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai (giá trị thương hiệu bằng không). NH sẽ hạ thấp các tiêu chuẩn để lựa chọn đầu tư, vì họ không có gì để mất.
Ngược lại, nếu các NH có một ít sức mạnh thị trường có được giá trị thương hiệu tích cực, nhà quản lý NH cũng như các cổ đông sẽ thận trọng hơn trong việc chấp nhận rủi ro. 10 Quan điểm về cạnh tranh và ổn định được lập luận rằng cạnh tranh tăng càng cao thì mức độ ổn định cũng tăng lên. Nghiên cứu của Stiglitz và Weiss (1981) đã phát hiện ra mối quan hệ nghịch biến giữa mức độ cạnh tranh (được đo bằng số lượng ngân hàng tham gia) và mức độ rủi ro trong ngành NH. Besanki và Thakor (2004) cũng chỉ ra rằng sự tăng cường cạnh tranh giảm đi lợi thế thông tin từ các quan hệ cho vay và làm tăng sự chấp nhận rủi ro của các NH.
Môi trường cạnh tranh cũng làm cho các NH thu được ít thông tin hơn về KH vay vốn. Allen và Gale (2004) đã nghiên cứu rằng các NH gặp khó khăn trong việc đánh giá hồ sơ tín dụng của KH, dẫn đến tăng nguy cơ rủi ro tín dụng và khả năng xảy ra các vấn đề bất ổn tài chính. Ngược lại, trong một môi trường ít cạnh tranh, các NH có xu hướng cung cấp dễ dàng hơn các khoản vay lớn, dẫn đến tăng nguy cơ sụp đổ của NH (Caminal và Matutes, 2002). Việc áp dụng lãi suất cao trong hệ thống NH có thể khuyến khích người dân chấp nhận các khoản vay rủi ro cao hơn, dẫn đến tăng nợ xấu.
Tuy nhiên, lãi suất cao cũng mang lại thu nhập từ lãi suất cao cho các NH (Martinez- Miera và Repullo, 2010). Ngoài ra, khi ít cạnh tranh, các NH có mức lợi nhuận cao hơn, từ đó tích lũy vốn để ngăn chặn các cơn sốc bất thường và giảm động cơ chấp nhận các dự án rủi ro cao, làm giảm biến động tăng trưởng kinh tế. Cạnh tranh giữa các NHTM là sự cố gắng đồng bộ của các NH trong một lĩnh vực để cung cấp cho KH các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, nhằm tăng cường vị thế của mình so với các đối thủ trong ngành. Đặc thù cạnh tranh trong hoạt động KD của ngân hàng thương mại “NH là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối tượng từng cộng đồng nói riêng.
Các NH có thể được định nghĩa qua các chức năng hàm chúng thực hiện trong nền kinh tế” (Peter S. Về bản chất, các NH cũng là một loại DN. Do đó, trong quá trình hoạt động của mình, các NH luôn tìm cách tối ưu hóa chi phí đầu vào và tăng giá trị đầu ra. Cạnh tranh trong ngành NH được hiểu là cuộc đấu tranh giành KH và điều kiện thuận lợi nhất trong việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, có đặc điểm khác biệt so với các đối thủ trên thị trường để tối đa hóa lợi ích.
Đặc thù cạnh tranh trong hoạt động KD của Ngân hàng thương mại. 11 Theo Nguyễn Thị Chinh (2020), các NHTM luôn đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt như tất cả các đơn vị trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, so với các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc điểm riêng. Cụ thể: Thứ nhất, lĩnh vực kiểm soát đồng tiền là một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm với sự ảnh hưởng đa dạng từ nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý và văn hóa truyền thống.
Mỗi yếu tố này đều có tác động riêng biệt và ngay cả những thay đổi nhỏ nhất cũng có thể gây ra tác động to lớn và nhanh chóng đối với toàn bộ môi trường KD. Thứ hai, các hoạt động KD của các NHTM liên quan đến tất cả các tổ chức kinh tế và cá nhân tham gia vào các hoạt động huy động vốn, cho vay và các dịch vụ tài chính khác. Do đó, nếu một NHTM gặp khó khăn trong KD và có nguy cơ phá sản, điều này sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các NHTM khác trong chuỗi. Vì vậy, các NHTM cạnh tranh để giành thị phần, song cũng phải duy trì sự hợp tác trong một môi trường lành mạnh để đối phó với rủi ro hệ thống.
Thứ ba, vì hoạt động của NHTM có liên quan chặt chẽ đến mọi khía cạnh của nền kinh tế xã hội, các ngân hàng trung ương của các quốc gia đã áp dụng kiểm soát nghiêm ngặt đối với thị trường này và triển khai các hệ thống cảnh báo sớm để đề phòng nguy cơ đổ vỡ hệ thống do hoạt động mạo hiểm của NHTM. Thứ tư, các hoạt động của các NHTM liên quan đến lưu chuyển tiền tệ không chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà còn có liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế quốc tế. Do đó, khả năng phát triển kinh tế của hệ thống NHTM phụ thuộc nhiều vào các yếu tố cả trong nước lẫn quốc tế, đặc biệt là sự ảnh hưởng mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng tài chính và vai trò then chốt của công nghệ thông tin trong hoạt động KD của các NH này. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Lý thuyết về cạnh tranh đã có nguồn gốc sớm từ thời của Adam Smith (1776) và David Ricardo (1817) và tiếp tục phát triển cho đến trước những năm 1970. Điều này đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của lý thuyết về NLCT hiện nay. Ban đầu, nghiên cứu về NLCT tập trung chủ yếu vào cấp độ quốc gia (M. Porter, 1979; 1990), sau đó mở rộng sang cấp độ ngành (M.
Porter, 12 1990), NLCT của DN (M. Porter, 1979, 1998; Sanchez & Heene, 1996, 2004, 2008, 2010; Ambastha & Momaya, 2002, 2004), và NLCT của sản phẩm (Chursin & Makarov, 2015).