Nghiên Cứu Năng Lực Cạnh Tranh Của Các Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Thủy Sản Tại Tỉnh An Giang

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Trường Đại Học Duy Tân

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

254
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Các câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Những đóng góp của luận án

1.7. Kết cấu của luận án

2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở nước ngoài

2.2. Tổng quan về các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở Việt Nam

2.3. Nhận xét về các nghiên cứu trước và xác định khoảng trống nghiên cứu

2.4. Khoảng trống nghiên cứu

2.5. Tiểu kết chương 1

3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU THỦY SẢN

3.1. Khái quát chung về năng lực cạnh tranh

3.2. Các trường phái về năng lực cạnh tranh

3.2.1. Năng lực cạnh tranh theo trường phái cổ điển

3.2.2. Năng lực cạnh tranh theo trường phái hiện đại

3.2.3. Các quan điểm khác về Năng lực cạnh tranh

3.3. Các lý thuyết về Năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp

3.3.1. Tiếp cận dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp

3.3.2. Tiếp cận dựa trên năng lực của doanh nghiệp

3.3.3. Tiếp cận từ chuỗi giá trị

3.3.4. Tiếp cận dựa trên định hướng thị trường

3.3.5. Tiếp cận theo kinh tế học tổ chức

3.4. Các cấp của năng lực cạnh tranh

3.4.1. Năng lực cạnh tranh quốc gia

3.4.2. Năng lực cạnh tranh ngành

3.4.3. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

3.4.4. Năng lực cạnh tranh sản phẩm

3.5. Mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản

3.5.1. Giới thiệu mô hình NLCT của doanh nghiệp trên thế giới

3.5.2. Các mô hình nghiên cứu thực nghiệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam

3.5.3. Các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang

3.6. Mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh thông qua lý thuyết nền

3.7. Tiểu kết chương 2

4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

4.1. Phương pháp và quy trình nghiên cứu

4.1.1. Phương pháp nghiên cứu

4.1.2. Quy trình nghiên cứu

4.2. Nghiên cứu định tính

4.2.1. Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu

4.2.2. Phỏng vấn sơ bộ

4.2.3. Các góp ý của chuyên gia từ phương pháp nghiên cứu định tính sơ bộ

4.3. Nghiên cứu định lượng

4.3.1. Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập

4.3.2. Đối tượng khảo sát và mẫu nghiên cứu

4.3.3. Quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu định lượng

4.4. Tiểu kết chương 3

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

5.1. Khái quát chung về NLCT các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam

5.1.1. Tổng quan về ngành nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

5.1.2. Khai thác và nuôi trồng, thủy sản ở nước ta giai đoạn 1995-2020

5.1.3. Vai trò ngành chế biến thủy sản trong nền kinh tế quốc dân

5.1.4. Chế biến thủy sản xuất khẩu

5.2. Thực trạng ngành nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng

5.2.1. Thực trạng ngành nuôi trồng và xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang

5.2.2. Diện tích nuôi trồng

5.2.3. Đối tượng nuôi

5.2.4. Sản lượng xuất khẩu giai đoạn 2008-2019

5.2.5. Các loại dịch vụ lao động nuôi trồng thủy sản

5.2.6. Chính sách địa phương

5.2.7. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang qua các năm

5.2.8. Thị trường xuất khẩu

5.2.9. Phúc lợi xã hội

5.3. Đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tỉnh An Giang

5.3.1. Năng lực quản trị

5.3.2. Công nghệ sản xuất

5.3.3. Nguồn nhân lực

5.3.4. Năng lực tài chính

5.3.5. Năng lực Marketing

5.3.6. Năng lực phát triển quan hệ kinh doanh

5.3.7. Năng lực thương hiệu

5.3.8. Năng lực sản phẩm

5.4. Kết quả nghiên cứu định tính

5.5. Nghiên cứu định lượng chính thức

5.5.1. Về kết quả nghiên cứu

5.5.2. Về xây dựng mô hình nghiên cứu

5.5.3. So sánh với các nghiên cứu ở các nước và tại Việt Nam trong thời gian gần đây

5.6. Tiểu kết chương 4

6. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

6.1. Kết luận rút ra từ kết quả của mô hình

6.2. Hàm ý quản trị

6.3. Hàm ý chính sách

6.4. Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo

6.5. Tiểu kết chương 5

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Năng Lực Cạnh Tranh Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Thủy Sản Tại An Giang

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại An Giang đang trở thành một vấn đề quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. An Giang, với lợi thế về nguồn nước và đất đai màu mỡ, đã phát triển mạnh mẽ ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản. Tuy nhiên, sự cạnh tranh ngày càng gia tăng từ các quốc gia khác đã đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp trong việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo số liệu từ Cục Thống kê An Giang, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đã đạt 2 tỷ 960 triệu USD trong giai đoạn 2015-2020, nhưng sản lượng xuất khẩu đang có dấu hiệu sụt giảm nghiêm trọng.

1.1. Đặc Điểm Ngành Xuất Khẩu Thủy Sản Tại An Giang

Ngành xuất khẩu thủy sản tại An Giang chủ yếu tập trung vào sản phẩm cá tra, một sản phẩm đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Với diện tích nuôi trồng ngày càng mở rộng, An Giang đã trở thành một trong những tỉnh có sản lượng xuất khẩu thủy sản lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đi kèm với nhiều thách thức về chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất.

1.2. Tình Hình Cạnh Tranh Trong Ngành Xuất Khẩu Thủy Sản

Cạnh tranh trong xuất khẩu thủy sản đang diễn ra gay gắt, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn với các đối thủ quốc tế. Các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam chiếm hơn 95% thị phần toàn cầu, nhưng lại không kiểm soát được giá bán, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và phá giá sản phẩm.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Đối Với Năng Lực Cạnh Tranh Doanh Nghiệp

Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại An Giang đang phải đối mặt với nhiều vấn đề và thách thức nghiêm trọng. Từ chi phí sản xuất tăng cao, công nghệ lạc hậu đến sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, tất cả đều ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đặc biệt, sự biến động của giá nguyên liệu và chi phí logistics cũng là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Chi Phí Sản Xuất Tăng Cao

Chi phí sản xuất trong ngành thủy sản đang gia tăng do giá nguyên liệu và chi phí logistics tăng cao. Điều này làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Theo báo cáo, giá thành nuôi cá tra hiện nay đã lên tới 27.000 đồng/kg, trong khi giá bán chỉ khoảng 32.000 đồng/kg.

2.2. Công Nghệ Sản Xuất Lạc Hậu

Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu, dẫn đến chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu. Việc áp dụng công nghệ mới như bảo quản bằng khí nitơ lỏng hay chế biến giá trị gia tăng vẫn còn hạn chế do thiếu vốn đầu tư.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Doanh Nghiệp Xuất Khẩu

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm đến việc xây dựng chiến lược marketing hiệu quả. Các doanh nghiệp cũng cần chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực và cải thiện quy trình quản lý.

3.1. Cải Tiến Công Nghệ Sản Xuất

Đầu tư vào công nghệ mới là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc áp dụng công nghệ hiện đại không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn giảm chi phí sản xuất.

3.2. Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định trong việc xây dựng thương hiệu và thu hút khách hàng. Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc kiểm soát chất lượng từ khâu nuôi trồng đến chế biến và xuất khẩu.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại An Giang đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Các doanh nghiệp cần có chiến lược rõ ràng và thực hiện các biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc nâng cao năng lực quản trị và cải thiện công nghệ sản xuất là những yếu tố quan trọng.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Năng Lực Cạnh Tranh

Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại An Giang còn nhiều hạn chế. Các yếu tố như năng lực quản trị, công nghệ sản xuất và nguồn nhân lực đều cần được cải thiện để nâng cao năng lực cạnh tranh.

4.2. Ứng Dụng Các Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh

Các doanh nghiệp cần áp dụng các giải pháp cụ thể như cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu mạnh để tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Năng Lực Cạnh Tranh Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Thủy Sản

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tại An Giang đang đứng trước nhiều thách thức. Tuy nhiên, với những giải pháp đúng đắn và sự nỗ lực không ngừng, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong tương lai. Việc cải thiện chất lượng sản phẩm, nâng cao công nghệ và xây dựng thương hiệu sẽ là những yếu tố quyết định cho sự thành công.

5.1. Tương Lai Của Ngành Xuất Khẩu Thủy Sản Tại An Giang

Ngành xuất khẩu thủy sản tại An Giang có tiềm năng phát triển lớn, nhưng cần phải có những chiến lược rõ ràng để vượt qua các thách thức hiện tại. Việc đầu tư vào công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững.

5.2. Định Hướng Phát Triển Năng Lực Cạnh Tranh

Định hướng phát triển năng lực cạnh tranh cần tập trung vào việc xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, nông dân và cơ quan quản lý. Sự hợp tác này sẽ giúp cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trên địa bàn tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỂ NGHIÊN CỨU Bước đầu quá trình nghiên cứu, tác giả thực hiện việc tổng hợp và phân tích, đánh giá một cách tổng quan các công trình nghiên cứu trong ngoài nước, nhằm tìm ra những tư liệu quý giá liên quan tới đề tài làm cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu. Tổng quan về các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở nước ngoài Có một số công trình nghiên cứu về NLCT như: Fagerberg, D. Nelson (2003), Innovation and Competitiveness, Oxford University Press. Nghiên cứu năng lực cạnh tranh ở 3 cấp độ: Cấp quốc gia (National level), cấp ngành (Industry level), cấp địa phương và doanh nghiệp (Regional and firm level) tác động của đổi mới dây chuyền công nghệ đến năng lực cạnh tranh.

Việc phân tích so sánh năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia, giữa các ngành và giữa các tập đoàn đa quốc gia, tác giả nhận thấy rằng khả năng cạnh tranh được tạo ra từ những khác biệt cho việc duy trì tăng trưởng trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Theo Wernerrfelt (1984), thì nguồn lực của DN chính là yếu tố quyết định đến NLCT và hiệu quả kinh doanh của DN. Phân tích về nguồn lực của DN là tập trung vào phân tích NLCT dựa vào các yếu tố bên trong, nó chính là nguồn lực của DN. Lý thuyết này dựa vào tiền đề là các DN trong cùng một ngành thường sử dụng những chiến lược kinh doanh khác nhau.

Hơn nữa, các DN không thể dễ dàng sao chép chiến lược kinh doanh của nhau bởi vì chiến lược kinh doanh được xây dựng dựa vào chính nguồn lực của DN. Porter (1990), đã chỉ rõ lợi thế cạnh tranh không chỉ ở mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau, với các hoạt động của nhà cung cấp và của khách hàng. Qua đó tác giả đưa ra khái niệm “chuỗi giá trị”, chia hoạt động chung của một doanh nghiệp thành những nhóm hoạt động khác 13 nhau đại diện cho từng yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh, qua đó đánh giá được lợi thế để xây dựng các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Năm 1993, Duning, J, nhận định mô hình Kim cương kiểu cũ của Porter (1990) khi sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành / doanh nghiệp đã không còn chính xác trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập của kinh tế thế giới và đề xuất bổ sung thêm nhân tố đầu tư nước ngoài vào mô hình để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT.

Theo nghiên cứu của Sanchez & Heence (1996, 2004), thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh “Năng lực cạnh tranh của 1 công ty là khả năng duy trì, triển khai phối hợp các nguồn lực và khả năng theo cách giúp công ty đạt được mục tiêu của nó”). Sanchez (2008), bản chất năng lực cạnh tranh đã chú trọng chuyển hướng năng lực thay vì nguồn lực. Theo quan điểm dựa trên năng lực của doanh nghiệp thì năng lực là chìa khoá để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và đạt hiệu quả cao, cũng như trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại và phát triển của một ngành, hay của một doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Như vậy, tiếp cận dựa trên nguồn lực, dựa vào lợi thế nguồn lực của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh và cách tiếp cận dựa trên năng lực thì dựa vào khả năng kết hợp các nguồn lực để tạo ra năng lực – đòi hỏi doanh nghiệp phải năng động, hệ thống, nhận thức và toàn diện trong quản lý chiến lược.

Nghiên cứu của Thompson et al., (2007), đã đề xuất các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh tổng thể của một doanh nghiệp dựa vào 10 yếu tố: Hình ảnh/uy tín, công nghệ, mạng lưới phân phối, khả năng phát triển và đổi mới sản phẩm, chi phí sản xuất, dịch vụ khách hàng, nguồn nhân lực, tình hình tài chính, trình độ quảng cáo, khả năng quản lý sự thay đổi. Nghiên cứu này chưa xác định được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố này đến kết quả kinh doanh của DN mà chỉ tập trung xây dựng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh 14 nghiệp và đánh giá nó trên phương pháp cho điểm nhằm so sánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Aziz et al. Trong đó tập trung vào 3 nhóm: quản trị, tổ chức và và tạo ra mạng lưới năng lực cạnh tranh của các nhà phát triển nhà tư nhân tại Malaysia.

Hai tác giả Ambastha và Momaya (2004), đã đưa ra khung lý thuyết về NLCT ở cấp độ DN. Nghiên cứu này cho thấy NLCT của DN chịu ảnh hưởng của các yếu tố: (1) Nguồn lực (nguồn nhân lực, cấu trúc, văn hóa, trình độ công nghệ, tài sản của DN); (2) Quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, quy trình tiếp thị); (3) Hiệu suất (chi phí, giá cả, thị phần, phát triển sản phẩm mới). Nghiên cứu này chỉ dừng lại ở NLCT của DN nói chung mà chưa phân biệt về qui mô, địa lý, lĩnh vực hoạt động. Tác giả Ho (2005), đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong DN và NLCT.

Ông đề xuất mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong DN thông qua năm khía cạnh, (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; (5) Trách nhiệm xã hội có mối quan hệ với NLCT của DN. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có sự ảnh hưởng lẫn nhau của hoạt động quản trị trong DN và NLCT, số điểm hoạt động quản trị trong DN càng cao thì đánh giá NLCT sẽ càng cao và ngược lại. Qua kết quả nghiên cứu tác giả nhận thấy, mối quan hệ 15 giữa hoạt động quản trị trong DN và NLCT sẽ cao hơn khi quản trị được đánh giá trên cơ sở toàn diện (xét 5 thông số cùng một lúc) thay vì đánh giá riêng lẻ. Trong nghiên cứu này tác giả chỉ tập trung làm rõ mối quan hệ giữa NLCT và năng lực quản trị trong DN mà không xét đến những yếu tố khác.

Vẫn còn một khoảng trống nghiên trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa quản trị của các DN ở các nước phát triển và khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường quốc tế. Một nghiên cứu của Chang et al.,(2007), về NLCT tại các cửa hàng tại Đài Loan bị ảnh hưởng bởi 7 yếu tố, (1) Chiến lược kinh doanh; (2) Năng lực tài chính; (3) Cơ sở vật chất, các tiện nghi; (4) Sản phẩm, hàng hóa; (5) Chất lượng dịch vụ; (6) Marketing, chiêu thị; (7) Nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa làm rõ mối quan hệ của các yếu tố này như thế nào và đặt dưới sự tác động của môi trường. Nghiên cứu, cũng chỉ đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT cho các cửa hàng tại Đài Loan nói chung, chưa phân biệt rõ sự khác biệt của cửa hàng cung cấp sản phẩm vật chất hay sản phẩm dịch vụ.

Nghiên cứu của Onar &Polat (2010), về các nhân tố tác động tới mối quan hệ giữa quá trình xây dựng năng lực và quá trình lựa chọn chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Istabul – Thổ Nhĩ Kỳ thông qua phỏng vấn tổng giám đốc hoặc giám đốc nguồn nhân lực dựa trên bảng câu hỏi Likert 7 điểm. Nghiên cứu này đã đề xuất các yếu tố tạo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: 1. Khả năng quản trị, 2. Khả năng sản xuất 3.

Khả năng bán hàng, 4. Dịch vụ hậu cần Logistic, 5. Công nghệ thông tin, 6. Tài chính- kế toán, 7.

Nguồn nhân lực, 8. Dịch vụ chăm sóc khách hàng, 9. Nghiên cứu phát triển, 11.Quản trị công nghệ, 12. Quan hệ khách hàng.

Nghiên cứu này cho thấy năng lực quyết định chiến lược càng đúng thì càng tạo ra năng lực cạnh tranh càng cao, khi môi trường kinh doanh thay đổi sẽ tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh sao chép, hoặc trao đổi mua bán trên thị trường nguồn lực. 16 Một khi môi trường kinh doanh thay đổi tác động đến chiến lược kinh doanh thì các thuộc tính khác biệt của DN trong cùng ngành sẽ không thể tồn tại lâu dài vì chúng thường có thể dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh sao chép, hoặc trao đổi mua bán trên thị trường nguồn lực. Kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền phân tích NLCT trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả thuyết DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực. Vì thế, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,.đã không còn là lợi thế của DN.

Mặt khác, các nghiên cứu của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều nghiên cứu đối tượng với giả thuyết là các DN trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các DN hiện nay trong nền kinh tế thị trường. Một nghiên cứu của Hosein et al., (2013), đã khái quát nên bức tranh tổng thể về NLCT trong ngành công nghiệp xuất khẩu trứng cá Tằm muối là một sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Iran, nhưng hiện nay tình hình sụt giảm nghiêm trọng do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài như: luật của các nước nhập khẩu, chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã nhãn mác, mối quan hệ tốt với các nước nhập khẩu…từ đó tác giả xây dựng chiến lượt cải thiện và tăng cường NLCT của ngành xuất khẩu trứng cá Tằm muối nhằm giành lại thị trường Sauka (2014), đã đưa ra 7 nhân tố ảnh hưởng đến NLCT cấp công ty, bao gồm: (1) Năng lực tiếp cận các nguồn lực; (2) Năng lực làm việc của nhân viên; (3) Nguồn lực tài chính; (4) Chiến lược kinh doanh; (5) Tác động của môi trường; (6) Năng lực kinh doanh so với đối thủ; (7) Sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc. Trong nghiên cứu này là sử dụng phương pháp thống kê và đưa ra nhận xét dựa trên giá trị trung bình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ