phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1 : Một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2 : Thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Lâm Đồng. Chƣơng 3 : Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Lâm Đồng trong thời gian tới. 5 z CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Các học thuyết kinh tế thị trƣờng, dù là tƣờng phái nào cũng thừa nhận cạnh tranh là một hiện tƣợng gắn liền với kinh tế thị trƣờng, chỉ xuất hiện trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, nơi mà cung – cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trƣờng. Ngày nay các quốc gia trên thế giới đều công nhận cạnh tranh là môi trƣờng tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các tổ chức, là các nhân tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Kết quả cạnh tranh sẽ xác định vị thế, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của mỗi tổ chức.
Vì vậy các tổ chức đều cố gắng tìm cho mình một chiến lƣợc phù hợp để chiến thắng trong cạnh tranh. Cạnh tranh là một hiện tƣợng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có các quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Theo Các Mác: “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” [1] Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng nhƣ nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình” [15] Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là họat động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi 6 z quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất” [13] Qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh nhƣ sau : Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tƣợng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án.
một lọat điều kiện có lợi (một thị trƣờng, một khách hàng. Mục đích cuối cùng là kiếm đƣợc lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trƣờng cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ nhƣ : đặc điểm sản phẩm, thị trƣờng, các điều kiện pháp lí, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau : cạnh tranh bằng đặc tính và chất lƣợng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm (chính sách định giá thấp; định giá cao; ổn định giá; định giá theo thị trƣờng; chính sách giá phân biệt; bán phá giá); cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán,… Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu nhƣ sau : “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.
Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Lợi thế cạnh tranh Adam Smith cho rằng : “Lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động, năng suất lao động cao nghĩa là chi phí sản xuất giảm, muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất” [6] Theo David Ricardo, lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối, mà còn phụ thuộc vào cả lợi thế tƣơng đối tức là lợi thế so sánh và nhân tố quyết định tạo nên lợi thế cạnh tranh vẫn là chi phí sản xuất nhƣng mang tính tƣơng đối. Theo quan điểm của Heckscher- Ohlin-Samuel thì lợi thế cạnh tranh là do lợi thế tƣơng đối về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất : vốn, lao động. Nhân tố quyết định hình thành lợi thế cạnh tranh là chi phí về vốn và chi phí về lao động.Porter, lợi thế cạnh tranh trƣớc hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hoá sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh nhƣ : chất lƣợng sản phẩm dịch vụ, mạng lƣới phân phối, cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật.[14] Tóm lại, lợi thế cạnh tranh là cái làm cho doanh nghiệp khác biệt hơn so với đối thủ cạnh tranh hoặc làm những cái mình có mà đối thủ không có, nhờ đó doanh nghiệp đạt được mục tiêu nhất định của mình.
Năng lực ( sức) cạnh tranh Theo Đại Từ Điển tiếng Việt, định nghĩa : “năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng lọai trên cùng một thị trƣờng tiêu thụ” [15] Theo Philip Lasser : “sức cạnh tranh của một công ty trong một lĩnh vực đƣợc xác định bằng những thế mạnh mà công ty có hoặc huy động đƣợc để có thể cạnh tranh thắng lợi” [4] 8 z Định nghĩa về khả năng cạnh tranh của Michael E.Porter, là “khả năng tạo những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm nâng cao lợi nhuận” [7] Nhƣ vậy, từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu khái quát : Năng lực cạnh tranh là năng lực khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực có giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực v.v…và các điều kiện khách quan khác một cách hiệu quả nhất. Đối với NHTM thì do các sản phẩm của Ngân hàng mang tính đặc thù (kinh doanh lọai hàng hóa đặc biệt là tiền tệ) nên năng lực cạnh tranh cũng mang tính đặc thù. Tuy nhiên, NHTM cũng là một doanh nghiệp, cũng phải xem xét đến khả năng tối đa hóa lợi nhuận. Do đó có thể định nghĩa : Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực có giới hạn nhằm mục đích đa dạng và nâng cao chất lượng, tiện ích các dịch vụ tài chính Ngân hàng, từ đó đảm bảo cho việc duy trì lợi nhuận và thị phần.
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM nếu chỉ dừng lại ở định tính thì không tránh khỏi các yếu tố cảm tính, vì thế cần phải có chỉ tiêu định lƣợng. Tuy nhiên, khó có một chỉ tiêu tổng hợp đo lƣờng sức cạnh tranh của NHTM, do vậy cần phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu : 1. Tiềm lực tài chính Tiềm lực tài chính là thƣớc đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm nhất định, đƣợc thể hiện qua nhiều tiêu chí nhƣng chủ yếu tập trung vào : Vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn tối thiểu, chất lƣợng tài sản có, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời của vốn đầu tƣ. Vốn chủ sở hữu 9 z Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm : Vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, lợi nhuận chƣa phân phối, giá trị tài sản tăng thêm do đánh giá lại tài sản cố định, định giá lại cổ phiếu, trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi.
Vốn chủ sở hữu thƣờng chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng ( khoảng < 10%) nhƣng lại có ý nghĩa rất quan trọng. Nó phản ánh quy mô, tầm vóc của một ngân hàng. Hệ số an toàn vốn tối thiểu Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio - CAR) là một thƣớc đo độ an toàn vốn của ngân hàng, thƣờng đƣợc dùng để bảo vệ những ngƣời gửi tiền trƣớc rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng nhƣ hiệu quả của hệ thống. CAR= (Vốn tự có/Tổng tài sản rủi ro đã điều chỉnh)x100% Qua hệ số này có thể xác định đƣợc khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành.
Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo đƣợc hệ số này tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những ngƣời gửi tiền. Chất lượng tài sản có Tài sản có của NHTM bao gồm các khoản mục : Tài sản ngân quỹ, tài sản cho vay, tài sản đầu tƣ và tài sản cố định. Chất lƣợng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời, năng lực quản lý và phần lớn rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Hầu hết các rủi ro trong kinh doanh tiền tệ đều tập trung ở tài sản có.
Chất lƣợng tài sản có thể hiện thông qua các chỉ tiêu nhƣ : tỷ lệ nợ xấu/ tổng dƣ nợ, mức độ trích lập dự phòng rủi ro và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng hóa của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn,… 10 z Mức sinh lời Là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của một ngân hàng, đồng thời nó cũng thể hiện kết quả cạnh tranh của một ngân hàng. Chỉ tiêu mức sinh lời đƣợc phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể sau : giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trƣởng, cơ cấu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận sau thuế … ROE = Lợi nhuận sau thuế / Bình quân vốn chủ sở hữu Hệ số này thể hiện cứ mỗi đồng vốn chủ sở hữu sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho ngân hàng.