Nghiên cứu năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong ngân hàng thương mại Việt Nam

Tài liệu Năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong ngân hàng thương mại tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2016

180
16
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẢM XÚC CỦA NHÀ QUẢN TRỊ CẤP TRUNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

1.1. Định nghĩa, mô hình và công cụ đo lường về năng lực cảm xúc

1.2. Nguồn gốc và mức độ quan tâm đến năng lực cảm xúc

1.3. Định nghĩa về năng lực cảm xúc (Emotional Intelligence)

1.4. Mô hình năng lực cảm xúc

1.5. Đo lường năng lực cảm xúc

1.6. Năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong NHTM ở Việt Nam

1.7. Giới thiệu về Nhà quản trị cấp trung trong NHTM ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực cảm xúc của nước ngoài

2.2. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa EI với các yếu tố thuộc về nhà quản trị

2.3. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa EI với các biến ở cấp độ tổ chức

2.4. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa EI với các biến ở cấp độ nhân viên

2.5. Các nghiên cứu về năng lực cảm xúc tại Việt Nam

2.6. Các nghiên cứu về năng lực cảm xúc của nhà quản trị

2.7. Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài

2.7.1. Khoảng trống nghiên cứu

2.7.2. Hướng nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của đề tài

2.7.3. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

2.7.3.1. Mô hình nghiên cứu
2.7.3.2. Các khái niệm trong mô hình nghiên cứu
2.7.3.3. Các giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Thang đo năng lực cảm xúc của NQT cấp trung trong NHTM Việt Nam

3.3. Thang đo sự hài lòng với công việc, cam kết với tổ chức, hành vi xây dựng tổ chức của nhân viên tại phòng giao dịch của NHTM Việt Nam

3.4. Thang đo kết quả hoạt động của phòng giao dịch của NHTM Việt Nam

3.5. Nghiên cứu định tính

3.6. Điều tra thử

3.7. Nghiên cứu định lượng

3.8. Thiết kế phiếu điều tra

3.9. Mẫu nghiên cứu

3.10. Thu thập dữ liệu

3.11. Phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả mẫu

4.2. Kết quả thu thập phiếu điều tra

4.3. Kết quả sàng lọc phiếu điều tra

4.3.1. Mô tả mẫu điều tra

4.3.2. Kiểm định dạng phân phối của các thang đo

4.3.3. Kiểm định giá trị của biến

4.3.4. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

4.3.4.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo với các biến cấu thành năng lực cảm xúc của NQT cấp trung trong NHTM Việt Nam
4.3.4.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo với các biến ở cấp độ nhân viên
4.3.4.3. Kiểm định độ tin cậy của thang đo với biến kết quả hoạt động của phòng giao dịch

4.4. Mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về bản thân NQT và năng lực cảm xúc của NQT cấp trung

4.4.1. Kiểm định mối tương quan giữa EI và các biến thuộc về bản thân của NQT cấp trung

4.4.2. So sánh về EI của NQT cấp trung là nam giới và nữ giới

4.4.3. So sánh về EI của NQT cấp trung theo trình độ học vấn

4.4.4. Mối quan hệ giữa thâm niên làm việc trong ngành ngân hàng và EI của NQT cấp trung

4.4.5. Mối quan hệ số năm đảm nhiệm chức vụ hiện tại và EI của NQT cấp trung trong NHTM Việt Nam

4.5. Kiểm định mối tương quan giữa các biến

4.6. Kiểm định mối tương quan giữa EI của NQT cấp trung và sự hài lòng với công việc, cam kết với tổ chức, OCB-O, OCB-I của nhân viên

4.7. Kiểm định mối tương quan giữa các biến cấu thành EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động của phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam

4.8. Kiểm định giả thuyết

4.8.1. Mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và các biến ở cấp độ nhân viên

4.8.2. Mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động của phòng giao dịch trong NHTM ở Việt Nam

4.8.3. Mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung, các biến ở cấp độ nhân viên và kết quả hoạt động của phòng giao dịch trong NHTM ở Việt Nam

4.8.4. Kết quả kiểm định giả thuyết

5. CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Kết quả chính của nghiên cứu

5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.3. Những đóng góp về lý luận

5.4. Những đóng góp về thực tiễn

5.5. Hạn chế của nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Năng lực cảm xúc (Emotional Intelligence - EI) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và lãnh đạo tại các ngân hàng thương mại. Định nghĩa về năng lực cảm xúc cho thấy đây là khả năng nhận biết, hiểu và quản lý cảm xúc của bản thân cũng như của người khác. Theo Goleman (1995), EI có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất làm việc của nhà quản trị cấp trung, từ đó tác động đến kết quả hoạt động của ngân hàng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng EI không chỉ có mối quan hệ thuận chiều với hiệu suất công việc mà còn ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc và cam kết của nhân viên đối với tổ chức. Nhà quản trị cấp trung, với vai trò là cầu nối giữa cấp trên và cấp dưới, cần phải có năng lực cảm xúc cao để điều phối các mối quan hệ và tạo môi trường làm việc tích cực. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng đang trải qua nhiều thay đổi và thách thức.

1.1 Định nghĩa và mô hình năng lực cảm xúc

Định nghĩa về năng lực cảm xúc đã được nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra các mô hình khác nhau. Một trong những mô hình nổi bật là mô hình của Goleman, bao gồm năm thành phần chính: tự nhận thức, tự quản lý, nhận thức xã hội, quản lý mối quan hệ và kỹ năng xã hội. Mô hình này giúp xác định rõ ràng các yếu tố cấu thành của EI và cách thức mà chúng tương tác với nhau trong môi trường làm việc. Nghiên cứu cho thấy rằng nhà quản trị cấp trung có năng lực cảm xúc cao thường có khả năng lãnh đạo tốt hơn, tạo ra môi trường làm việc tích cực và nâng cao hiệu suất làm việc của nhân viên. Sự hiểu biết về mô hình này là cơ sở quan trọng để phát triển các chương trình đào tạo và phát triển năng lực cảm xúc cho nhà quản trị trong các ngân hàng thương mại.

1.2 Tác động của năng lực cảm xúc đến hiệu suất làm việc

Năng lực cảm xúc có tác động mạnh mẽ đến hiệu suất làm việc của nhà quản trị cấp trung trong ngân hàng thương mại. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhà quản trị có năng lực cảm xúc cao thường tạo ra sự hài lòng và cam kết cao hơn từ phía nhân viên. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc cá nhân mà còn ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động của toàn bộ phòng giao dịch. Một nghiên cứu của Wong và Law (2002) đã chỉ ra rằng EI có mối liên hệ chặt chẽ với hành vi xây dựng tổ chức, cho thấy rằng nhà quản trị cấp trung có thể sử dụng năng lực cảm xúc của mình để thúc đẩy sự hợp tác và làm việc nhóm trong tổ chức. Sự phát triển năng lực cảm xúc không chỉ là lợi ích cá nhân mà còn là một yếu tố quyết định đến sự thành công của tổ chức trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng.

II. Tình hình nghiên cứu về năng lực cảm xúc tại Việt Nam

Tình hình nghiên cứu về năng lực cảm xúc trong lĩnh vực ngân hàng thương mại tại Việt Nam còn hạn chế. Mặc dù nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra tầm quan trọng của EI, nhưng ở Việt Nam, các nghiên cứu về EI của nhà quản trị cấp trung vẫn chưa được khai thác sâu. Các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào EI của nhân viên, trong khi vai trò của nhà quản trị cấp trung lại rất quan trọng trong việc điều phối và quản lý nhân sự. Nghiên cứu này nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống trong nghiên cứu về năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam, từ đó cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển năng lực cảm xúc trong quản lý.

2.1 Các nghiên cứu quốc tế về năng lực cảm xúc

Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chứng minh rằng năng lực cảm xúc có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất làm việc và sự hài lòng của nhân viên. Các nghiên cứu này thường chỉ ra rằng nhà quản trị có năng lực cảm xúc cao có khả năng tạo ra môi trường làm việc tích cực, giảm căng thẳng và tăng cường sự hợp tác trong nhóm. Ví dụ, nghiên cứu của Goleman (1998) cho thấy rằng EI có thể dự đoán hiệu suất làm việc tốt hơn so với IQ. Điều này cho thấy rằng EI là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển kỹ năng lãnh đạo và quản lý.

2.2 Tình hình nghiên cứu về năng lực cảm xúc tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về năng lực cảm xúc còn khá mới mẻ và chưa được chú trọng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng EI có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc và cam kết của nhân viên, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào nhà quản trị cấp trung. Điều này cho thấy cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về vai trò và tác động của năng lực cảm xúc đối với nhà quản trị cấp trung trong ngân hàng thương mại. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp lấp đầy khoảng trống lý thuyết mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các ngân hàng trong việc phát triển nguồn nhân lực.

III. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án này bao gồm cả nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính sẽ giúp thu thập thông tin sâu về các khía cạnh của năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung, trong khi nghiên cứu định lượng sẽ cung cấp dữ liệu thống kê để kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu. Các công cụ đo lường năng lực cảm xúc sẽ được thiết kế dựa trên các mô hình đã được công nhận trong nghiên cứu trước đó, nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả. Ngoài ra, mẫu nghiên cứu sẽ được lựa chọn từ các ngân hàng thương mại trên địa bàn, đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ ngành ngân hàng tại Việt Nam.

3.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu sẽ bao gồm việc xác định mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá thực trạng năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung và phân tích tác động của nó đến hiệu suất làm việc. Đối tượng nghiên cứu là các nhà quản trị cấp trung trong các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu sẽ tập trung vào các ngân hàng thương mại lớn và có ảnh hưởng tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

3.2 Phân tích dữ liệu

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích bằng các phương pháp thống kê phù hợp, bao gồm phân tích hồi quy và phân tích tương quan. Phân tích hồi quy sẽ giúp xác định mối quan hệ giữa năng lực cảm xúc và các biến phụ thuộc như sự hài lòng với công việc và hiệu suất làm việc. Phân tích tương quan sẽ cho thấy mức độ liên hệ giữa các yếu tố cấu thành năng lực cảm xúc và kết quả hoạt động của phòng giao dịch. Kết quả phân tích sẽ được trình bày rõ ràng và có hệ thống để hỗ trợ cho các kết luận và khuyến nghị trong nghiên cứu.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ nghiên cứu năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong các ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẢM XÚC CỦA NHÀ QUẢN TRỊ CẤP TRUNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 1. ðịnh nghĩa, mô hình và công cụ ño lường về năng lực cảm xúc 1. Nguồn gốc và mức ñộ quan tâm ñến năng lực cảm xúc Quan tâm ñến năng lực cảm xúc (Emotional Intelligence- EI) ñã nở rộ trong những năm gần ñây, EI ñược dự báo là có ảnh hưởng ñến sự phát triển tổ chức và phát triển con người; EI cung cấp một cách tiếp cận mới ñể hiểu và ñánh giá hành vi, phong cách quản lý, khả năng, kỹ năng… của một cá nhân. Chính vì thế năng lực cảm xúc là một chủ ñề nghiên cứu ñược quan tâm của khá nhiều học giả, các nhà nghiên cứu.Các nghiên cứu phần lớn hướng ñến nghiên cứu về EI với thống nhất ñịnh nghĩa và các yếu tố cấu thành EI và hướng ñến dự ñoán EI là một trong những yếu tố quyết ñịnh hiệu suất của môi trường làm việc nhiều hơn so với cấu trúc truyền thống sử dụng như trí thông minh nói chung và tính cách (Mayer, 2001; Watkin, 2000).

Hiệu suất công việc phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ giữa các cá nhân, sự khoan dung, khả năng thích ứng và làm việc theo nhóm; ñó cũng chính là những hành vi quan trọng của cá nhân tại nơi làm việc và năng lực cảm xúc ñược coi như là tạo ra môi trường cho các năng lực khác phát huy tối ña. Nói chung, năng lực cảm xúc ñược nhìn nhận là cơ sở cho các ñịnh nghĩa rộng về hiệu quả giữa các cá nhân tại nơi làm việc, và do ñó có thể là một ñóng góp hữu ích cho sự hiểu biết của chúng ta về các biến như hiệu quả làm việc nhóm, giao tiếp, ñàm phán, thực hiện công việc, lãnh ñạo và ñộng viên (Goleman, 1998). Trở lại lịch sử, Charles Darwin là người ñầu tiên nhận ra giá trị của cảm xúc. Trong nghiên cứu của mình về cảm xúc, hành vi của ñộng vật và con người, Darwin nhận ra rằng những hành vi bày tỏ cảm xúc (chủ yếu qua gương mặt) rất là phổ biến và ñược truyền từ xa xưa trong rất nhiều ñộng vật và kể cả con người.

Cảm xúc có hai khía cạnh: thứ nhất là cảm giác do mình cảm nhận bên trong (tính chủ quan) và thứ hai là hành vi ñược bày tỏ ra ngoài (tính khách quan). Năm 1922, giáo sư tâm lý học EdwardLee Thorndike ñưa viết vềtrí thông minh xã hội (Social Intelligence – SI), theo ông thì trí thông minh xã hội là năng lực mà một người dùng ñể hành ñộng một cách khôn ngoan trong các quan hệ của con người. Ông 7 cho rằng trí thông minh xã hội là khảnăng thấu hiểu người khác và khả năng hành ñộng thích hợp trong mối quan hệ giữa cáccá nhân, cũng tham gia vào chỉ số thông minh của một cá nhân. Nối tiếp ông, các nhà tâmlý học, khi tiếp cận những khía cạnh khác nhau của trí thông minh xã hội một cách riêngrẽ, ñã làm nổi bật vai trò quyết ñịnh của yếu tố xã hội ñối với trí thông minh.

Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội phương Tây giai ñoạn ðại công nghiệp, nói ñến trí thông minh, xã hội vẫn dành sự chú ý nhiều hơn ñến năng lực nhận thức, tư duy theo cách hiểu truyền thống, ñược ño bằng các trắc nghiệm IQ về năng lực suy luận logic – toán và năng lực ngôn ngữ, năng lực nhớ kiến thức. Cho ñến tận năm 1983, khi mà Howard Gardner, nhà tâm lý học người Mỹ, công bố tác phẩm “Lý thuyết ña trí tuệ” (The theory of Multiple Intelligences – viết tắt là lý thuyết MI), các học giả và công chúng bắt ñầu quan tâm ñến nhiều thành phần khác nhau trong cơ cấu trí tuệ của con người. Cốt lõi của lý thuyết tâm lý học MI là sự thừa nhận nhiều thành phần trí tuệ trong năng lực con người. Những dạng trí tuệ khác nhau ñó là: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic – toán, trí tuệ không gian, trí tuệ về vận ñộng - cơ thể, và trí tuệ về con người (trí tuệ về con người lại bao gồm hai thành phần: trí tuệ về bản thân (intrapersonal intelligence) – hiểu mình, và trí tuệ về người khác (interpersonal intelligence) – hiểu về người khác).

Vào giữa thế kỷ XX, Fleishman và Harris (1962) chỉ ra rằng “sự quan tâm” là một khía cạnh quan trọng của sự lãnh ñạo hiệu quả. Cụ thể hơn, nghiên cứu này gợi ý rằng những người lãnh ñạo mà có thể thiết lập ñược “sự tin cậy, kính trọng lẫn nhau, và sự hòa hợp, ấm áp một cách bền vững” với các thành viên trong nhóm của họ thì sẽ ñạt hiệu quả lãnh ñạo tốt hơn. ðể thiết lập ñược ñiều ñó, ít nhất phải có năng lực nhận thức ñể hiểu về bản thân và hiểu về người khác. Ở khía cạnh nhận thức về chính mình và người khác thì Reuven Bar-On là người ñặc biệt quan tâm ñến khía cạnh những diễn biến cảm xúc ở con người.

Cảm xúc chi phối rất mạnh ñến hành vi, quan hệ xã hội của chúng ta. Vì vậy, nhận biết về cảm xúc là rất quan trọng ñể có ñược những hành vi thông minh. Trong luận án tiến sĩ của mình (1985), ông nêu ra 5 yếu tố liên quan ñến năng lực/ trí thông minh giúp cá nhân có khả năng thành công hơn những người khác, bao gồm: năng lực nhận diện và làm chủ cảm xúc của mình, năng lực nhận diện và ñiều khiển cảm xúc của những người khác, năng lực thích ứng, kiểm soát áp lực (stress), tâm trạng chung. Và những yếu tố 8 này cũng là cơ sở ban ñầu minh chứng về việc năng lực cảm xúc có nguồn gốc từ trí thông minh xã hội.

Kế thừa và phát triển tư tưởng của Thorndike và Gardner, hai tác giả P.Mayer cũng ñặc biệt quan tâm ñến năng lực nhận thức và kiểm soát cảm xúc của con người. Trong bối cảnh xã hội hiện ñại, cuộc sống vật chất dồi dào hơn nhưng áp lực tinh thần, căng thẳng cũng nhiều hơn; sự thiếu kiểm soát cân bằng ñời sống cảm xúc có thể gây bất hạnh cho bản thân và người khác, cho cộng ñồng. Ngược lại, sự nhận thức và kiểm soát cảm xúc tốt giúp thích ứng tốt với hoàn cảnh. Năm 1990, Salovey và Mayer lần ñầu tiên sử dụng thuật ngữ "năng lực cảm xúc (EI)” và xác ñịnh năng lực cảm xúc của mỗi cá nhân là khả năng kiểm soát những tình cảm và xúc cảm của bảnthân và của người khác, phân biệt chúng với nhau và sử dụng những thông tin thu ñượcñểñịnh hướng suy nghĩ và hành ñộng của mình (trang 189).Mayer cũng khởi xướng một chương trình nghiên cứu nhằm phát triển các thang ño có hiệu lực về năng lực cảm xúc và khám phá tầm quan trọng của năng lực cảm xúc.

Vào ñầu những năm 1990, Daniel Goleman - người biên tập khoa học cho tờ New York Times, phụ tráchlĩnh vực về những nghiên cứu về não và hành vi, ñã chú ý theo dõi các nghiên cứu của P.Mayer và các công trình khác liên quan ñến năng lực cảm xúc.Goleman viết cuốn sách “Emotional Intelligence” (xuất bản năm 1995) – một trong những cuốn sách bán chạy nhất trên thị trường Mỹ lúc ñó và ñã ñược dịch ra nhiều thứ tiếng. Kể từ khi cuốn sách này ra ñời, công chúng mới thực sự chú ý ñến chủ ñề năng lực cảm xúc. Trước ñó, khi D.Goleman làm luận án tiến sĩ Tâm lý học tại ðại học Harvard, ông ñã từng cộng tác với giáo sư David McClelland và những cộng sự khác ñể nghiên cứu vấn ñề: Tại sao các trắc nghiệm ño trí thông minh ít nói cho chúng ta biết cái gì tạo nên thành công của con người trong cuộc sống? Sau cuốn sách ñầu tiên về năng lực cảm xúc, D.Goleman tiếp tục viết một loạt sách khác về năng lực cảm xúc như:"Năng lực cảm xúc ứng dụng trong công việc" (1998), “Nghệ thuật lãnh ñạo cơ bản: Việc nhận thấy sức mạnh của năng lực cảm xúc” (2002), và bài báo nổi tiếng “Cái gì làm nên người lãnh ñạo?” (1998) ñề cập ñến vai trò của năng lực cảm xúc ñối với sự thành công của con người nơi làm việc, ñặc biệt là với những người làm công việc lãnh ñạo và quản lý. Daniel Goleman (1995) ñã chỉ ra tầm quan trọng của năng lực cảm xúc tại nơi làm việc, Goleman lưu ý rằng chỉ số IQ là một yếu tố dự báo kém phần mạnh mẽ hơn EQcủa lãnh ñạo xuất sắc.

Và cũng từ thời ñiểm ñó, năng lực cảm xúc là một chủ ñề nghiên cứu ñược nhiều học giả quan tâm và một số 9 học giả như Bar-On (1997), Cooper và Sawaf (1996), Goleman (1998), và Weisinger (1998)… ñã tạo ra quan niệm riêng của họ về năng lực cảm xúc.ðịnh nghĩa về năng lực cảm xúc (Emotional Intelligence) Emotional Intelligence (EI)là một thành tố trí tuệ mới ñược ñề cập ñến vào khoảng thập niên 80 của thế kỷ XX. EI nhanh chóng nhận ñược sự chú ý của nhiều nhà khoa học, với nhiều ñịnh nghĩa ñược ñưa ra, tuy nhiên EI thường ñược tiếp cận ở 3 khía cạnh và ñược ñịnh nghĩa như sau: − EIñược nhìn nhận dưới góc ñộ với nhằm mục ñích bổ sung các quan ñiểm truyền thống của trí thông minh bằng cách nhấn mạnh những ñóng góp tình cảm, cá nhân, xã hội và hành vi thông minh (Gardner, 1983; Mayer và Salovey, 1995; Wechsler, 1958). McMullen (2002) cho rằng năng lực cảm xúc là khả năng quản lý cảm xúc của một cá nhân và không trái ngược với trí thông minh; Gardner cho rằng năng lực cảm xúc là khả năng ñọc cảm xúc (tôi ñang thực sự cảm thấy những cảm xúc gì?) và hiểu cảm xúc (tại sao tôi cảm thấy cảm xúc này? Nó ñang ở mức ñộ nào) của bản thân hay của người khác. Hay có thể hiểu năng lực cảm xúc là năng lực khám phá những tình cảm của mình và năng lực lựa chọn tình cảm ñể hướng dẫn ứng xử của mình theo sự lựa chọn ấy và năng lực nắm ñược tâm trạng, tính khí, ñộng cơ và ham muốn của người khác và phản ứng lại một cách thích hợp.

− EI ñược ñịnh nghĩa như là một năng lực xử lý các thông tin về cảm xúc (Mayer và Salovey, 1997). Và cũng từ ñây thuật ngữ “Emotional Intelligence”ñược hiểu là năng lực cảm xúc ñược các học giả chấp nhận. Theo Salovey và Mayer (1990), năng lực cảm xúc là năng lực nhận biết, hiểu rõ và làm chủ các cảm xúc của bản thân; năng lực nhận biết (thấu hiểu) cảm xúc của người khác; năng lực vận dụng những thông tin về cảm xúc ñó ñể ñịnh hướng suy nghĩ, hành ñộng của bản thân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong ngân hàng thương mại Việt Nam" của Đoàn Xuân Hậu, dưới sự hướng dẫn của PGS. Ngô Kim Thanh tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tập trung vào việc khám phá và đánh giá năng lực cảm xúc của các nhà quản trị cấp trung trong lĩnh vực ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về vai trò của cảm xúc trong quản lý mà còn cung cấp những thông tin hữu ích cho các ngân hàng trong việc phát triển kỹ năng lãnh đạo và nâng cao hiệu quả làm việc của đội ngũ quản lý.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị trong lĩnh vực ngân hàng, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam full, nơi phân tích các khía cạnh quản lý rủi ro trong cho vay, một phần quan trọng trong quản lý ngân hàng.

Ngoài ra, bài viết Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng tmcp công thương việt nam luận văn ths kinh doanh cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, điều này có liên quan mật thiết đến năng lực quản trị trong ngân hàng.

Cuối cùng, bài viết Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng á châu luận văn thạc sĩ sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách nâng cao chất lượng dịch vụ, một yếu tố quan trọng trong việc phát triển năng lực cảm xúc và kỹ năng lãnh đạo của nhà quản trị.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về quản trị ngân hàng mà còn giúp bạn hiểu rõ hơn về những khía cạnh khác nhau của ngành này.