Chương I: Lịch sử ra đời và phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam I.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau: Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
Sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tài chính của Nhà nước. KHÁI NIỆM Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào phần thu nhập sau khi trừ đi các khoản chi phí liên quan đến thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Thuế TNND áp dụng chung cho thất cả các thành phần kinh tế, điều chỉnh cả đối với cơ sở thường trú của công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp có lịch sử hình thành từ rất sớm được thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau. Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ 14 Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2013-2014 sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận).
Từ năm 1990, Quốc hội ban hành luật thuế lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế. Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế. Khắc phục những hạn chế trên, ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Ngày 17/6/2003, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2004.Ngày 3/6/2008 Quốc hội đã ban hành luật thuế TNDN mới (sau đây gọi là luật thuế TNDN năm 2008) có hiệu lực kế từ ngày 01/01/2009.
Theo quy định của luật thuế TNDN năm 2008 thì thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ điều tiết vào thu nhập của các tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, không còn điều tiết thu nhâp của cá nhân có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (đã được xác định là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân). Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các doanh nghiệp. Đặc điểm cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp: - Đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập có nguồn gốc phát sinh chủ yếu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Như vậy, dưới góc độ lý luận, để thu nhập được coi là thu nhập chịu thuế phải thỏa mãn 2 điều kiện: + Có hành vi kinh doanh phát sinh trên thực tế không phân biệt tư cách chủ thể là doanh nghiệp hay là các tổ chức khác, có đăng ký kinh doanh hay không có đăng ký kinh doanh (đăng ký dưới các hình thức khác theo luật Các tổ chứ tín dụng, luật Luật sư, luật Đầu tư…).
+ Có thu nhập thực tế hợp pháp phát sinh trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh trên và các khoản thu nhập khác. 15 Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2013-2014 - Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là mọi tổ chức và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Mức độ điều tiết của thuế thu nhập doanh nghiệp là rất lớn. - Mục đích cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp là động viên một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước, đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa phát sinh thu nhập.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp dưới các góc độ khác nhau Sự khác biệt giữa chính sách thuế và chuẩn mực, chế độ kế toán tạo ra các khoản chênh lệch trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí cho một kỳ kế toán nhất định, dẫn tới chênh lệch giữa số thuế thu nhập phải nộp trong kỳ với chi phí thuế thu nhập của doanh nghiệp theo chế độ kế toán áp dụng.
Các khoản chênh lệch này được phân thành hai loại chênh lệch vĩnh viễn và chênh lệch tạm thời. Chênh lệch vĩnh viễn là các khoản chênh lệch phát sinh khi thực hiện quyết toán thuế, cơ quan thuế loại hoàn toàn ra khỏi doanh thu, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ theo các quy định của chính sách thuế hiện hành. Ví dụ chênh lệch vĩnh viễn do khoản chi phí quảng cáo, tiếp thị vượt mức khống chế 10% tổng chi phí trong kỳ; khoản chi phí không có hoá đơn, chứng từ hợp lệ chứng minh; các khoản tổn thất tài sản;. Chênh lệch tạm thời là các khoản chênh lệch phát sinh do cơ quan thuế chưa chấp nhận ngay trong kỳ các khoản doanh thu, chi phí đã ghi nhận theo chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng.
Các khoản chênh lệch này sẽ được khấu trừ hoặc tính thuế thu nhập trong các kỳ tiếp theo. Ví dụ chênh lệch về chi phí khấu hao do chính sách khấu hao nhanh của DN không phù hợp với quy định về khấu hao theo chính sách thuế (Thông tư 203/2009/TT-BTC sửa lại là Thông tư 45/2013/TT-BTC). Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế TNDN, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Lợi nhuận kế toán phụ 16 Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2013-2014 thuộc rất nhiều vào các chính sách kế toán mà DN lựa chọn phù hợp với các quy định của Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán áp dụng như chính sách khấu hao; chính sách phân bổ tài sản đã xuất dùng; chính sách ghi nhận doanh thu; chính sách và phương pháp tập hợp chi phí, tính giá thành;.
Thu nhập chịu thuế TNDN của một kỳ, được xác định theo qui định của Luật thuế TNDN hiện hành và là cơ sở để tính thuế TNDN phải nộp. Khoản chênh lệch giữa Thu nhập chịu thuế và Lợi nhuận kế toán chính là các khoản chênh lệch vĩnh viễn và chênh lệch tạm thời. Kế toán DN căn cứ vào các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết về doanh thu, thu nhập và các khoản chi chí thuộc các khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung và chi phí bán hàng, quản lý DN, chi phí tài chính, chi phí khác để nhận diện các khoản thu nhập, chi phí có sự khác biệt về quy định ghi nhận giữa chuẩn mực, chế độ kế toán và chính sách thuế. Kế toán DN lập các bảng kê phân tích, so sánh và xác định các khoản chênh lệch đối với các khoản doanh thu và chi phí có sự khác biệt giữa ghi nhận giữa chế độ kế toán với chính sách thuế.
Sử dụng thông tin trên các bảng kê phân tích so sánh doanh thu, chi phí để lập các chỉ tiêu điều chỉnh trên tờ khai quyết toán thuế TNDN theo mẫu 03/TNDN và xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Vấn đề đặt ra là khi phát sinh các khoản chênh lệch tạm thời, các DN ghi nhận như thế nào trên Báo cáo tài chính nhằm đảm bảo phản ánh một cách trung thực và hợp lý nhất tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Cách thức xử lý khoản chênh lệch vĩnh viễn: - Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước liên quan đến khoản thuế TNDN phải nộp của các năm trước, DN được hạch toán tăng (hoặc giảm) số thuế TNDN phải nộp của các năm trước vào chi phí thuế thu nhập hiện hành của năm phát hiện sai sót. 17 Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2013-2014 + Trường hợp thuế TNDN hiện hành của các năm trước phải nộp bổ sung do phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghi tăng chi phí thuế TNDN hiện hành của năm hiện tại, ghi: Nợ TK 8211 - Chi phí thuế TNDN hiện hành Có TK 3334 - Thuế TNDN.
Khi nộp tiền, ghi: Nợ TK 3334 - Thuế TNDN Có các TK 111, 112,… + Trường hợp số thuế TNDN phải nộp được ghi giảm do phát hiện sai sót không trọng yếu của các năm trước được ghi giảm chi phí thuế TNDN hiện hành trong năm hiện tại, ghi: Nợ TK 3334 - Thuế TNDN Có TK 8211 - Chi phí thuế TNDN hiện hành - Cuối năm tài chính, kế toán kết chuyển chi phí thuế thu nhập hiện hành, ghi: + Nếu TK 8211 có số phát sinh Nợ lớn hơn số phát sinh Có, thì số chênh lệch ghi: Nợ TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh Có TK 8211 - Chi phí thuế TNDN hiện hành. + Nếu TK 8211 có số phát sinh Nợ nhỏ hơn số phát sinh Có, thì số chênh lệch ghi: Nợ TK 8211 - Chi phí thuế TNDN hiện hành Có TK 911 - Xác định kết quả kinh doanh. Cách thức xử lý khoản chênh lệch tạm thời 18 Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2013-2014 2. Đối với thuế thu nhập hoãn lại phải trả - Trường hợp thuế thu nhập hoãn lại phải trả phát sinh từ các giao dịch trong năm được ghi nhận vào chi phí thuế TNDN hoãn lại.
Cuối năm tài chính, kế toán căn cứ “Bảng xác định thuế thu nhập hoãn lại phải trả” để ghi nhận thuế thu nhập hoãn lại phải trả phát sinh từ các giao dịch trong năm vào chi phí thuế TNDN hoãn lại.