CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỀN CỦA ĐÈ ÁN 1. Khái quát về loại hình dịch vụ lưu trú hostel 1. Khái niệm và đặc điểm về loại hình lưu trú hostel 1. Khái niệm về loại hình lưu trú hostel Hostel là thuật ngữ tiếng Anh thường được sử dụng để chỉ những cơ sở lưu trú giá rẻ, đặc biệt phố biến trong ngành du lịch và kinh doanh khách sạn.
Trong mô hình này, hostel thường cung cấp các phòng ngủ chung chứa nhiều giường đơn hoặc giường tầng, cùng với các phòng tắm và vệ sinh chia sẻ. Mục tiêu của hostel là cung cấp một phương thức lưu trú tiết kiệm cho du khách, sinh viên hoặc những người có ngân sách hạn chế khi đi du lịch. Đặc điểm chung của hostel là sự tiện lợi, giá cả phải chăng và không gian chia sẻ, tạo điều kiện cho việc giao lưu và gặp gỡ giữa các du khách. Hostel là một dạng lưu trú phổ biến trong lĩnh vực du lịch, đặc biệt được ưa chuộng bởi những du khách có phong cách du lịch bụi.
Khác với các khách sạn truyền thống, hostel thường tập trung vào việc cung cấp những giải pháp lưu trú giá rẻ và tiện lợi. Thay vì sử dụng các loại giường đơn hoặc đôi, như trong các khách sạn thông thưòng, hostel thường áp dụng mô hình giường tầng - một lựa chọn linh hoạt và tiết kiệm không gian, giống như trong các ký túc xá sinh viên. Điều này giúp tối ưu hóa không gian và giảm chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách muốn tiết kiệm chi phí lưu trú trong chuyến đi của mình. Hostel là một dạng nhà nghỉ giá rẻ thường dành cho những du khách yêu thích phong cách du lịch bụi.
Một đặc diêm nối bật của hostel là việc sử dụng giường tầng, tương tự như các giường trong ký túc xá của sinh viên. Tại các hostel, phòng ngủ thường được chia thành nhiều loại phòng, bao gồm phòng 4 giường, 6 giường, 10 giường, tùy thuộc vào nhu cầu và sở thích của du khách. Khách đến ở tại hostel thường không phân biệt giới tính, nam và nữ có thể chia sẻ chung một phòng, và các giường thường được phân chia bằng rèm để 18 tạo sự riêng tư khi cần thiết. Loại hình lưu trú này rất phố biến tại châu Âu, và ở Việt Nam, đe phù hợp với văn hóa địa phương, một so hostel chia phòng theo giới tính, thậm chí có những hostel chỉ phục vụ cho cặp đôi.
Hostel là một dạng nhà nghỉ du lịch giá rẻ, thường được ưa chuộng bởi các đối tượng khách du lịch bụi, nhóm bạn trẻ muốn trải nghiệm mà không phải bỏ ra quá nhiều chi phí. Cơ bản, hostel là một biến the của khách sạn giá rẻ, nơi mà các dịch vụ đi kèm thường được cắt giảm để giảm thiểu chi phí thuê phòng. Trong một hostel, có nhiều loại phòng với số lượng giường tương ứng: từ phòng 2 giường, 4 giường, 6 giường, đến phòng 10 giường và nhiều hơn nữa. Các hostel thường linh hoạt với vấn đề giới tính, cho phép khách nam và nữ chia sẻ cùng một phòng, và các giường thường được phân chia bằng rèm đế tạo sự riêng tư khi cần.
Ớ Việt Nam, đe phù hợp với văn hóa địa phương, nhiều hostel chia phòng theo giới tính, thậm chí có những hostel chỉ phục vụ cho cặp đôi. Tuy nhiên, giá phòng riêng thường sẽ cao hơn và gần bằng giá phòng khách sạn thông thường. Đặc điểm của loại hình lưu trú hostel Theo tác giả Ms Smile 2019 của trang HoteUob.vn cho biết loại hình dịch vụ lưu trú có những đặc điểm khác so với các loại hình lưu trú khác như: Phục vụ nơi ngủ nghỉ cho khách bằng giường tầng: Sử dụng mô hình lưu trú hostel, du khách sẽ được phục vụ chỗ ngủ 100% bằng giường tầng bởi đây là mô hình nhắm đến khách hàng yêu thích đi phượt - nhóm khách hàng chỉ yêu cầu chỗ nghỉ ngơi đơn giản, không quá quan trọng việc sinh hoạt chung cùng nhiều người. Giảm tối đa dịch vụ đi kèm đe tiết kiệm chi phí cho khách hàng: Đối với mô hình hostel, du khách chỉ cần chi trả khoảng 100 nghìn đồng/người/đêm đã có thể sử dụng dịch vụ ngay cả khi đang ở những thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nằng,.
có mức chi tiêu cao hơn rất nhiều các tỉnh thành khác. Bởi hostel đã tối giản hoàn toàn các dịch vụ hỗ trợ như dọn phòng, ăn uống, giặt là,. Du khách được trải nghiệm sinh hoạt tại không gian chung: Ngoài phòng ngủ lớn với nhiều dãy giường tầng đặt liền kề nhau, các khu vực khác như phòng tắm, bếp, nhà ăn, sân 19 thượng cũng đồng thời là các không gian sinh hoạt chung của du khách. Tại đây, khách hàng có thể thoải mái gặp gỡ, giao lưu với mọi người và có thêm những bữa tiệc nhỏ.
Chủ hostel là người trực tiếp đón tiếp khách hàng: Chủ kinh doanh hostel thường là những người bản địa hoặc ngoại quốc yêu thích hoạt động du lịch, thám hiểm. Chính vì vậy, họ luôn sằn sàng đón tiếp khách hàng cùa mình một cách nồng nhiệt. Trong những buổi gặp mặt, du khách có thể cùng chủ hostel tâm sự, chia sẻ về những chuyến du lịch và kinh nghiệm của mình. Tầm quan trọng của dịch vụ lưu trú hostel trong ngành du lịch Tầm quan trọng của việc khám phá thị trường du lịch dành cho giới trẻ được nhấn mạnh bởi tác động kinh tế tích cực của nó (Aramberri, 1991), chiếm khoảng 20%.
Hành vi tiêu dùng du lịch của những người trẻ này có ảnh hưởng đáng ke đen hành vi tiêu dùng du lịch hiện nay. Nghiên cứu sâu hơn về thế hệ này, được gọi là thế hệ Millennial, sẽ góp phần hiếu biết nhiều hơn về một lình vực thị trường quan trọng và thiết kế cụ thể kế hoạch tiếp thị. Là một đặc diêm của chuyến du lịch dành cho giới trẻ, chúng tôi coi việc ký túc xá là phần chính. Theo cách gần đúng đầu tiên, chúng ta có thể mô tả hoạt động lưu trú tại nhà trọ như một cách thức hoặc khái niệm đặc biệt trong ngành lưu trú.
Theo Sanchez và López de Avila (2010), “Hostel” là cơ sở cung cấp cho giới trẻ chỗ ở phù hợp với túi tiền và mong muốn hòa nhập xã hội trong chuyến đi” và “đối tượng” của hoạt động du lịch này nhận được tên của du khách ba lô, người bán nhà trọ, khách du lịch độc lập, khách du lịch trẻ và gần đây hơn là những người đóng gói chóp nhoáng Nhóm mục tiêu hay "tiếp thị mục tiêu" mà cái gọi là Ngành Lưu trú Du lịch Thanh niên (YTA) nhắm đến” (Agabo-Mateos, Escobar-Perez và Lobo-Gallardo, 2012). Theo ghi nhận của Brochado et al. Bất chấp xu hướng này, kiến thức về chất lượng dịch vụ của loại cơ sở lưu trú này còn hạn chế (Musa & Thirumoorthi, 2001). Quyết định ở lại, khả năng giới thiệu hostel cho người khác và truyền miệng tích cực (W0M) dự kiến sẽ bị ảnh hưởng bởi chất lượng cảm nhận về dịch vụ do ký túc xá cung cap (Brochado và cộng sự 2015).
20 Du lịch bụi trong ký túc xá đã nối lên như một hiện tượng văn hóa, kinh tế và xã hội toàn cầu (Thyne, Davies, & Nash, 2005), được hỗ trợ bởi việc đi lại quốc tế tưong đối dề dàng, sự xuất hiện của các hãng hàng không giá rẻ và mạng lưới ký túc xá đang phát triến. Du lịch bụi được cho là đã phát then đáng ke trong những năm qua và ngày càng nhận được tầm quan trọng trong tài liệu về thị trường du lịch (Leslie và Wilson, 2006, Musa và Thirumoorthi, 2011). Du khách ba lô được coi là một thị trường thích hợp có giá trị đe phát triến du lịch vì trung bình họ ở lại lâu hơn, ghé thăm nhiều địa điếm hơn so với khách du lịch phố thông (Chitty, Ward, & Chua, 2007) và cách chi tiêu của họ phần lớn mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp nhỏ ờ địa phương (Musa & Thirumoorthi, 2011). Khái quát về truyền miệng điện tử eWom và khái quát về khách Tây Balo 1.
Khái niệm về truyền miệng điện tử Theo Hennig-Thurau và đồng nghiệp (2004), truyền miệng điện tử được định nghĩa là "Bất kỳ tuyên bố tích cực hoặc tiêu cực từ các khách hàng tiềm năng, hiện tại hoặc trước đó về một sản phẩm hoặc công ty, được chia sẻ với mọi người và tổ chức thông qua internet." Theo Fan và Miao (2012), truyền miệng điện tử (eW0M) có the được mô tả là một loại giao tiếp không chính thức nhằm đến người tiêu dùng, liên quan đến việc sử dụng hoặc các đặc tính của sản phẩm và dịch vụ cụ the, hoặc người bán hàng, dựa trên công nghệ internet. Đây bao gồm cả việc trao đối thông tin giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cũng như giữa các người tiêu dùng, là hai phần không the thiếu cùa eW0M. Theo Nuria Huete-Alcocer (2017), truyền miệng điện tử (eW0M) được định nghĩa là một hình thức đánh giá và nhận xét trực tuyến, có khả năng lan truyền nếu thông điệp đủ sức thuyết phục hoặc ấn tượng. Loại hình truyền thông này đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong bối cảnh sự phát triến của các nền tảng trực tuyến, khiến cho eW0M trở thành một trong những nguồn thông tin có ảnh hường nhất trên internet.
Theo Littlejohn & Foss (2009), truyền miệng điện tử (eW0M) được định nghĩa là quá trình mà khách hàng đe lại những tin nhắn cho một lượng lớn người tiêu dùng thông qua các nền tảng thương mại điện tử. Người tiêu dùng có thể tự nguyện hoặc bị kích động để 21 chia sẻ thông tin về trải nghiệm cá nhân, sở thích về sản phấm hoặc dịch vụ qua các nền tảng thưcmg mại điện tử. Tầm quan trọng của truyền miệng điện tử Ý định mua hàng là một trong những biến số kết quả phổ biến nhất của truyền thông truyền miệng điện tử (eWOM) (Sher & Lee, 2009; Lee & Lee, 2009). Theo Ajzen (1991), ý định mua hàng được coi là yếu tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi cá nhân, cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà cá nhân sằn sàng bỏ ra đe thực hiện một hành vi nhất định.
Khi các cá nhân có ý định hành vi mạnh mẽ hơn, họ có xu hướng thể hiện mức độ thực hiện hành vi cao hơn. Những năm gần đây, du lịch đà trở thành xu hướng ở một số nước, trong đó có Việt Nam. Với hầu hết tất cả các hoạt động liên quan đến công nghệ và internet, tầm quan trọng của truyền thông và công nghệ trong ngành du lịch đã tăng lên đáng kế (Hurriyati, R, 2020).