Luận văn thạc sĩ nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của hoạt động kiểm toán, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2007

127
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU VÀ VẬN DỤNG TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1. TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1.1. Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kế toán và kiểm toán

1.1.2. Khái niệm về trọng yếu trong kế toán và kiểm toán

1.1.3. Tầm quan trọng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

1.2. VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BCTC THEO CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN QUỐC TẾ

1.2.1. Lịch sử ra đời và phát triển chuẩn mực kiểm toán quốc tế về tính trọng yếu

1.2.2. Giới thiệu về dự thảo ISA 320 (soạn thảo vào 2005 và hiệu đính vào 2006)

1.2.2.1. Về tên gọi chuẩn mực
1.2.2.2. Về định nghĩa
1.2.2.3. Về việc vận dụng tính trọng yếu trong quy trình kiểm toán

1.3. TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN THEO CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN HOA KỲ

1.3.1. Lược sử phát triển chuẩn mực trọng yếu tại Hoa Kỳ

1.3.2. Nội dung chuẩn mực hiện hành

1.3.2.1. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
1.3.2.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán
1.3.2.3. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

1.4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1.4.1. Phải luôn cập nhật các chuẩn mực, nhất là các chuẩn mực về tính trọng yếu trong kiểm toán

1.4.2. Phải có hướng dẫn chi tiết như Hoa Kỳ

1.4.3. Cần dựa vào tính trọng yếu để hoàn thiện quy trình kiểm toán phù hợp

1.4.4. Cần hồ sơ hóa tài liệu về trọng yếu

1.4.5. Thông báo với ban lãnh đạo

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển kiểm toán độc lập tại Việt Nam

2.1.2. Các dịch vụ do kiểm toán độc lập cung cấp

2.1.3. Đội ngũ nhân viên kiểm toán chuyên nghiệp

2.1.4. Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

2.1.5. Các đặc điểm cơ bản của ngành kiểm toán độc lập Việt Nam

2.2. CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

2.2.1. Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập

2.2.2. Các quy định liên quan đến tính trọng yếu

2.3. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG THỰC HIỆN KIỂM TOÁN BCTC Ở CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.3.1. Mục đích khảo sát

2.3.2. Phương pháp và đối tượng khảo sát

2.3.3. Kết quả khảo sát

2.3.3.1. Tại các công ty kiểm toán quốc tế
2.3.3.2. Tại các công ty kiểm toán Việt Nam tiền thân là Doanh nghiệp Nhà nước (thuộc Bộ tài chính & Sở tài chính)
2.3.3.3. Tại các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô nhỏ

2.3.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG

2.3.4.1. Việc vận dụng tính trọng yếu chưa đồng đều ở các công ty kiểm toán
2.3.4.2. Chưa nhận thức đầy đủ vai trò vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán
2.3.4.3. Việc vận dụng tính trọng yếu tại các công ty kiểm toán Việt Nam còn mang nặng hình thức

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC VẬN DỤNG TÍNH TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

3.1. CÁC GIẢI PHÁP MANG TÍNH NGUYÊN TẮC

3.1.1. Hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập

3.1.2. Luôn cập nhật chuẩn mực kiểm toán cho phù hợp thay đổi của nền kinh tế

3.1.3. Cần ban hành hướng dẫn chi tiết các hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, trong đó có hướng dẫn cho chuẩn mực về tính trọng yếu

3.1.4. Cần chuyển giao một số hoạt động cho hội nghề nghiệp

3.2. GIẢI PHÁP VỀ PHÍA NHÀ NƯỚC

3.2.1. Hoàn thiện chuẩn mực VSA 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”

3.2.2. Về tên gọi của chuẩn mực VSA 320

3.2.3. Khái niệm về trọng yếu trong chuẩn mực

3.2.4. Về thuật ngữ người sử dụng báo cáo tài chính

3.2.5. Về hướng dẫn xác định mức trọng yếu

3.2.6. Về thông báo các sai lệch kiểm toán

3.2.7. Về vận dụng tính trọng yếu trong quy trình kiểm toán

3.2.8. Xây dựng thêm các chuẩn mực còn thiếu và hiệu đính các chuẩn mực kiểm toán khác có liên quan đến tính trọng yếu

3.2.9. Ban hành các hướng dẫn cụ thể liên quan đến chuẩn mực VSA 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”

3.2.10. Phương pháp xác định mức trọng yếu

3.2.10.1. Mục tiêu của phương pháp
3.2.10.2. Cơ sở đánh giá tính trọng yếu

3.2.11. Về quy trình vận dụng trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính

3.2.11.1. Vận dụng tính trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
3.2.11.2. Vận dụng tính trọng yếu trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
3.2.11.3. Vận dụng tính trọng yếu trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán

3.3. CÁC GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÔNG TY KIỂM TOÁN

3.3.1. Quy định bằng văn bản hướng dẫn về việc áp dụng tính trọng yếu trong quy trình kiểm toán và tăng cường kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán

3.3.2. Cập nhật chương trình đào tạo, huấn luyện nội bộ nhằm hướng dẫn cho KTV thực hiện vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán đặc biệt công ty kiểm toán Việt Nam

3.3.3. Nâng cao năng lực chuyên môn cho KTV

3.4. CÁC GIẢI PHÁP KHÁC

3.4.1. Đối với Bộ tài chính

3.4.2. Đối với Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tính trọng yếu trong kiểm toán tài chính

Tính trọng yếu trong kiểm toán tài chính là một khái niệm quan trọng, ảnh hưởng đến độ tin cậy của báo cáo tài chính. Nó giúp các kiểm toán viên xác định mức độ sai lệch nào có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo. Việc hiểu rõ về tính trọng yếu không chỉ giúp nâng cao chất lượng kiểm toán mà còn bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

1.1. Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kiểm toán

Lịch sử phát triển tính trọng yếu trong kiểm toán bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 20. Khái niệm này đã được chấp nhận rộng rãi tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Các chuẩn mực kiểm toán đã được xây dựng để định nghĩa rõ ràng về tính trọng yếu, từ đó giúp kiểm toán viên có cơ sở để thực hiện công việc của mình.

1.2. Khái niệm về trọng yếu trong kiểm toán

Khái niệm trọng yếu trong kiểm toán được hiểu là mức độ sai lệch mà nếu không được phát hiện có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính. Điều này có nghĩa là không phải tất cả các sai lệch đều được coi là trọng yếu, mà chỉ những sai lệch có khả năng gây ra hiểu lầm cho người đọc.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng tính trọng yếu

Việc áp dụng tính trọng yếu trong kiểm toán tài chính gặp nhiều thách thức. Các kiểm toán viên thường phải đối mặt với áp lực từ khách hàng và các bên liên quan khác. Hơn nữa, sự thiếu đồng nhất trong việc hiểu và áp dụng khái niệm này cũng gây ra nhiều khó khăn trong quá trình kiểm toán.

2.1. Những khó khăn trong việc xác định mức trọng yếu

Xác định mức trọng yếu là một trong những thách thức lớn nhất mà kiểm toán viên phải đối mặt. Mỗi công ty có những đặc điểm riêng, do đó mức trọng yếu cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp. Việc thiếu hướng dẫn cụ thể có thể dẫn đến sự không nhất quán trong việc áp dụng.

2.2. Áp lực từ các bên liên quan

Kiểm toán viên thường phải chịu áp lực từ các bên liên quan, bao gồm cả khách hàng và cổ đông. Điều này có thể dẫn đến việc họ không thực hiện đầy đủ các quy trình cần thiết để xác định tính trọng yếu, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán.

III. Phương pháp nâng cao tính trọng yếu trong kiểm toán tài chính

Để nâng cao tính trọng yếu trong kiểm toán tài chính, cần có những phương pháp và quy trình rõ ràng. Việc cập nhật các chuẩn mực kiểm toán và đào tạo nhân viên là rất cần thiết để đảm bảo rằng tất cả các kiểm toán viên đều hiểu và áp dụng đúng khái niệm này.

3.1. Cập nhật chuẩn mực kiểm toán

Cập nhật các chuẩn mực kiểm toán là một trong những cách hiệu quả nhất để nâng cao tính trọng yếu. Các chuẩn mực mới cần phản ánh những thay đổi trong môi trường kinh doanh và yêu cầu của thị trường.

3.2. Đào tạo và nâng cao năng lực cho kiểm toán viên

Đào tạo là yếu tố quan trọng giúp kiểm toán viên nắm vững khái niệm trọng yếu. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế để cung cấp kiến thức và kỹ năng cần thiết cho kiểm toán viên trong việc xác định và áp dụng tính trọng yếu.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tính trọng yếu

Việc áp dụng tính trọng yếu trong kiểm toán tài chính đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty thực hiện tốt việc áp dụng tính trọng yếu có độ tin cậy cao hơn trong báo cáo tài chính, từ đó tạo ra niềm tin cho các nhà đầu tư.

4.1. Kết quả khảo sát về việc áp dụng tính trọng yếu

Kết quả khảo sát cho thấy rằng nhiều công ty kiểm toán tại Việt Nam vẫn chưa áp dụng tính trọng yếu một cách đồng bộ. Điều này dẫn đến sự thiếu nhất quán trong chất lượng báo cáo tài chính.

4.2. Những bài học từ các công ty kiểm toán quốc tế

Các công ty kiểm toán quốc tế đã có những kinh nghiệm quý báu trong việc áp dụng tính trọng yếu. Việc học hỏi từ những kinh nghiệm này có thể giúp các công ty kiểm toán tại Việt Nam cải thiện quy trình và nâng cao chất lượng kiểm toán.

V. Kết luận và tương lai của tính trọng yếu trong kiểm toán

Tính trọng yếu trong kiểm toán tài chính sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính. Các công ty kiểm toán cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc áp dụng và nâng cao tính trọng yếu để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

5.1. Tương lai của tính trọng yếu trong kiểm toán

Tương lai của tính trọng yếu trong kiểm toán sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của các chuẩn mực và quy định mới. Các công ty kiểm toán cần phải chủ động cập nhật và điều chỉnh quy trình của mình để phù hợp với những thay đổi này.

5.2. Đề xuất cho các công ty kiểm toán

Các công ty kiểm toán nên xây dựng một khung pháp lý rõ ràng về tính trọng yếu và thường xuyên tổ chức các buổi đào tạo để nâng cao nhận thức cho nhân viên. Điều này sẽ giúp cải thiện chất lượng kiểm toán và tăng cường niềm tin của các bên liên quan.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao khả năng vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán báo cáo tài chính của hoạt động kiểm toán độc lập tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU VÀ VẬN DỤNG TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ TRỌNG YẾU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Lịch sử phát triển về tính trọng yếu trong kế toán và kiểm toán Lịch sử phát triển tính trọng yếu trong kiểm toán xuất phát từ nguyên tắc trọng yếu trong kế toán. Sự ra đời, phát triển thuật ngữ trọng yếu trong kiểm toán có thể chia thành ba giai đoạn chính như sau: - Giai đoạn hình thành Kiểm toán là một hoạt động đã có từ lâu đời.

Ở thời trung cổ, chức năng chính của kiểm toán là kiểm tra về tính chính xác của các báo cáo tài chính. Trong giai đoạn này, hoạt động kiểm toán chủ yếu là kiểm toán tuân thủ do các kiểm toán viên của Nhà nước và kiểm toán viên nội bộ thực hiện. Cho đến khi có sự ra đời của thị trường chứng khoán và công ty cổ phần cũng như do sự mở rộng quy mô của các doanh nghiệp, dần dần đã diễn ra sự tách rời giữa quyền sở hữu của các cổ đông và chức năng điều hành của những Nhà quản lý. Từ đó đã xuất hiện nhu cầu kiểm tra của các chủ sở hữu để chống lại sự gian lận của các Nhà quản lý lẫn những người làm công.

Kiểm toán độc lập đã ra đời vào thế kỷ 18 để đáp ứng cho nhu cầu này. Trách nhiệm chính của kiểm toán trong giai đoạn này là phát hiện các gian lận và sai lệch của người quán lý nhằm phục vụ cho người chủ sở hữu. Nói cách khác, trong giai đoạn này, khái niệm về trọng yếu chưa được đề cập. Trách nhiệm của kiểm toán viên thay đổi không ngừng vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

Trong thời gian này, do có sự chuyển dịch vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác và hợp nhất các công ty lớn ở Anh trong ngành khai thác mỏ, đường sắt, nhiên liệu, điện thoại. đã dẫn đến sự thay đổi quan điểm về mục đích, bản chất và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 nguồn vốn đầu tư vào các công ty. Từ đó, nhiệm vụ của KTV chuyển sang phục vụ cho cổ đông trong cộng đồng hơn là lợi ích của các người chủ sở hữu vắng mặt. Nhóm cổ đông trong cộng đồng chủ yếu là các nhà đầu tư địa phương, mà thường là các ngân hàng lớn hay các nhà đầu tư lớn và nhóm này ngày càng gia tăng.

Do vậy trách nhiệm chính của KTV không còn là phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính đã dần được thay thế bằng đảm bảo BCTC không còn sai lệch trọng yếu. Năm 1867, chánh án trong toà án Anh tại Central Railway of Venezuela v.Kisch đưa ra đòi hỏi về tính trọng yếu như sau : “… trong bản cáo bạch tài chính của công ty không được có sự sai lệch hoặc sự che giấu nào của bất kỳ yếu tố mang tính trọng yếu có thể được cho phép” [Bushong J.Gregory, Ohio CPA Journal, Oct-Dec2000, Vol. 59 Issue 4, p49, 4p, 2 diagrams, 2bw]. Cũng trong giai đoạn này, tại Hoa kỳ, với sự ra đời của luật chứng khoán liên bang và việc thành lập ủy ban chứng khoán vào năm 1933 và luật giao dịch chứng khoán năm 1934 trong đó yêu cầu Báo cáo tài chính của các công ty niêm yết cần được kiểm toán nhằm xác định tính trung thực của Báo cáo tài chính.

Từ các yêu cầu này, thuật ngữ trọng yếu đã xuất hiện. - Giai đoạn phát triển Khái niệm trọng yếu đã được chấp nhận tại Hoa Kỳ trong suốt những năm của thế kỷ 20 và từ đó đã trở thành một bộ phận nền tảng của việc trình bày BCTC cũng như mục tiêu kiểm toán BCTC tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, vào thập niên 1930, các thông báo của học viện Hoa kỳ (American Institute bulletins) bắt đầu xuất hiện thuật ngữ “tính trọng yếu” và chúng ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các thông báo có liên quan. Từ lúc này, ý tưởng về thì tính trọng yếu bắt đầu phát triển như một phần của phương pháp luận của ngành kế toán.

[William Holmes, Materiality – Through the looking glass] Trong giai đoạn này, các cuộc tranh luận nổ ra gay gắt liên quan định nghĩa về tính trọng yếu, về sự ảnh hưởng đến nhà đầu tư và xuất hiện nhu cầu cần xây dựng chuẩn mực để định nghĩa về tính trọng yếu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Năm 1957, Hiệp hội kế toán Mỹ (American Accounting Association) đưa ra quan điểm về vấn đề trọng yếu như sau “khoản mục được xem xét là trọng yếu nếu có lý do tin rằng sự hiểu biết về khoản mục ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư được thông tin” Năm 1965, Học viện Canada (Canada Institute) cho là “sai lệch kế toán là trọng yếu nếu sự bóp méo có thể ảnh hưởng đến quyết định của người đọc BCTC” Năm 1968, Học viện Anh (English Institute) đưa ra “một vấn đề là trọng yếu nếu sự không trình bày, hoặc trình bày sai lệch hoặc sự bỏ sót các vấn đề này có thể bóp méo thông tin cho người đọc.” Sự phát triển mạnh mẽ khái niệm tính trọng yếu trong kế toán của các quốc gia đã kéo theo sự phát triển tính trọng yếu trong kiểm toán. Các chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ, Anh, Canada đều có chuẩn mực liên quan đến tính trọng yếu. Việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ này còn do kết quả từ một số vụ kiện lớn xảy ra tại toà án của Hoa kỳ liên quan đến việc bỏ sót hay trình bày thông tin không chính xác trong BCTC.

Theo kết luận của tòa án trong giai đoạn này, thì KTV không chịu trách nhiệm về việc phát hiện mọi gian lận và sai lệch mà chỉ chịu trách nhiệm về tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính. Nói cách khác, mục tiêu kiểm toán BCTC chỉ nhằm phát hiện các sai lệch trọng yếu trong BCTC. Vào tháng 10/1987, Ủy ban thực hành kiểm toán toán quốc tế (IAPC) là Ủy ban thường trực của Liên đoàn kế toán quốc tế IFAC, cũng đã đưa ra nguyên tắc kiểm toán quốc tế IAG số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán”. Đến tháng 7/1994 thì sửa đổi và ban hành thành chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số 320 “Tính trọng yếu trong kiểm toán”.

Trong giai đoạn này, tính trọng yếu không chỉ liên quan đến trách nhiệm của KTV khi thực hiện kiểm toán BCTC, mà còn một trong những thủ tục kiểm toán cần thiết khi thực hiện kiểm toán. Qua đó, tính trọng yếu trong kiểm toán đã được áp dụng rộng rãi trong toàn bộ quá trình kiểm toán của các công ty kiểm toán từ khi giai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 đoạn lập kế hoạch đến khi thực hiện và hoàn thành kiểm toán. Nói cách khác, mục tiêu tính trọng yếu đã dần chuyển sang việc vận dụng trong các thủ tục kiểm toán. Trong giai đoạn lập kế họach, KTV phải xem xét tính trọng yếu để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán.

Trong giai đoạn thực hiện, nếu tình hình tài chính thực tế và kết quả hoạt động của doanh nghiệp có sự cách biệt đáng kể so với dự tính, thì việc đánh giá mức trọng yếu sẽ có thay đổi. Và trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán, KTV phải xem xét tính trọng yếu để đánh giá ảnh hưởng các sai lệch đến tính trung thực và hợp lý của BCTC. - Giai đoạn hiện đại Sau sự đổ vỡ một loạt các công ty hàng đầu trên thế giới diễn ra vào đầu năm 2000, trong đó có lỗi của công ty kiểm toán. Nghề nghiệp kiểm toán đã hiệu đính lại chuẩn mực trọng yếu theo hướng là đưa ra nhiều hơn các hướng dẫn vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán.

Cụ thể, trong các chuẩn mực kiểm toán đã đưa ra các hướng dẫn về cơ sở để xác định mức trọng yếu, hiểu về người sử dụng BCTC, yêu cầu cần vận dụng tính trọng yếu trong các giai đoạn của quy trình kiểm toán và về hồ sơ hóa vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC. Trong giai đoạn này cũng có một vài hướng đi mới trong việc xác định mức trọng yếu và vận dụng tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC. Cụ thể, khi thực hiện kiểm toán KTV phải tìm hiểu về đặc điểm kinh doanh, qua đó đánh giá về chiến lược hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, KTV cũng phải đánh giá ảnh hưởng môi trường bên trong và bên ngoài, cũng như điểm mạnh điểm yếu của đơn vị được kiểm toán nhằm vận dụng hiệu quả hơn tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC của đơn vị.

Ví dụ như tại Anh, hai tác giả Simon Zadek và Mira Merme trong “Định nghĩa lại tính trọng yếu" (Redefining Materiality – AccountAbility, tháng 7/2003) đưa ra cách xem xét tính trọng yếu. Theo đó, khi thực hiện kiểm toán, cần kiểm tra “five- part test” 5 yếu tố của tính trọng yếu để xác định thông tin nào trong BCTC mà công chúng quan tâm nhiều nhất. Các yếu tố được xác định như sau: (1) các ảnh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hưởng tài chính trực tiếp trong ngắn hạn (Direct, short-term financial impacts), (2) hiệu quả dựa vào các chính sách (Policy-based performance), (3) các chuẩn mực kinh doanh trên cơ sở xem xét chéo (Business peer-based norms), (4) sự quan tâm và cách ứng xử của cổ đông (Stakeholder behaviour & concerns), (5) các quy tắc và các quy ước xã hội (Social norms – regulatory & non-regulatory). Do việc quan điểm này chưa được đề cập trong các chuẩn mực của ISA về vận dụng tính trọng yếu, cho nên đề tài sẽ không đề cập đến hướng đi mới theo phương pháp tiếp cận này.

Khái niệm về trọng yếu trong kế toán và kiểm toán Khái niệm về tính trọng yếu được đề cập rộng rãi trong chuẩn mực kế toán và chuẩn mực kiểm toán tại một số quốc gia trên thế giới. Khái niệm trọng yếu trong kế toán Theo khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán quốc tế thì trọng yếu được hiểu như sau: “Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể BCTC, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC. Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai lệch được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể”. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phương diện định lượng và định tính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ