Chương 1: Giới thiệu chung. Chương 2: Cơ sở lý luận về sự thỏa mãn của khách hàng tổ chức. Chương 3: Mô tả khái quát về sản phẩm nước uống đóng chai O-Blue và khách hàng mục tiêu của của công ty cổ phần Hà Nội - Hưng Yên. Chương 4: Đánh giá sự thỏa mãn của khách hàng về sản phẩm nước uống đóng chai O-Blue.
Chương 5: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng về phẩm nước uống đóng chai O-Blue. 12 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG TỔ CHỨC Trong chương này, tác giả đề cập tới tầm quan trọng của việc thỏa mãn khách hàng và sự thoả mãn của khách hàng tổ chức. Trọng tâm của chương là mô hình INDSAT, mô hình 07 khía cạnh về sự thỏa mãn của khách hàng tổ chức được tác giả lựa chọn làm khung lý thuyết cho nghiên cứu này.1 Sự thỏa mãn của khách hàng và tầm quan trọng đối với doanh nghiệp Toàn cầu hóa đang là xu hướng phát triển của thế giới trong thế kỷ XXI. Nó đem lại rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho các doanh nghiệp.
Điển hình của nền kinh tế thị trường trong giai đoạn này thị trường được mở rộng, sự dồi dào của các loại hàng hóa cả về chủng loại và số lượng để khách hàng có thể thoải mái lựa chọn. Bên cạnh đó sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ kỹ thuật số như xuất hiện thương mại điện tử, thư điện tử, điện thoại di động…đã làm thay đổi các phương thức giao dịch, tác động sâu sắc đến hầu hết các khía cạnh của lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các thông tin về doanh nghiệp/sản phẩm…tăng trưởng cả về quy mô và tốc độ được khách hàng tiếp nhận. Khách hàng cũng chỉ mất một thời gian ngắn tìm được doanh nghiệp/sản phẩm để có thể mua hàng thay thế cho doanh nghiệp/sản phẩm hiện tại.
Tất cả những vấn đề trên đã làm thị trường thay đổi rất nhanh chóng, các lực lượng cạnh tranh trên thị trường thay đổi cả về thế và lực. Khách hàng trở nên nhạy cảm hơn với các tiêu chí về sản phẩm, nhu cầu luôn luôn thay đổi, thị trường xuất hiện thêm những đối thủ mới, các kênh phân phối mới, các hình thức giao dịch mới đa dạng và nhanh chóng,…và còn nhiều vấn đề khác. Kết quả là sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường với cung hàng hóa lớn hơn cầu hàng hóa về cùng một loại sản phẩm. Điều đó dẫn tới khách hàng ngày càng trở lên khan hiếm và trở thành lực lượng cạnh tranh chiếm ưu thế tuyết đối trên thị trường.
Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải giữ được khách hàng của mình. Muốn làm được điều đó thì các doanh nghiệp phải nắm được các nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng, 13 mong đợi của khách hàng về sản phẩm để thỏa mãn một cách tốt nhất. Bởi vậy, hướng tới sự thoản mãn khách hàng là mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp. Vấn đề thỏa mãn khách hàng ngày càng được quan tâm nhiều hơn vì động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp tập trung vào sự thỏa mãn khách hàng.
Khách hàng càng thấy thỏa mãn khi mua hàng thì vị thế cạnh tranh của công ty càng được củng cố. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp có thể đạt được thị phần và lợi nhuận cao hơn. Sự thỏa mãn khách hàng cũng được xem là yếu tố quyết định cho khả năng tiếp tục bán được sản phẩm, dẫn tới khách hàng trung thành, hạn chế được sự chuyển dịch của khách hàng sang các nhà cung cấp khác/sản phẩm khác, bán được số lượng lớn. Khi khách hàng đã được thỏa mãn thì sẽ truyền miệng những thông tin tích cực về doanh nghiệp/sản phẩm.
Theo Bitner & Hubbert (1994) phương châm hoạt động của các công ty kinh doanh là phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng vì khách hàng là nguồn doanh thu và lợi nhuận của công ty. Khi khách hàng thỏa mãn với dịch vụ hay hàng hóa của công ty thì khả năng họ mua tiếp tục sử dụng dịch vụ hay hàng đó sẽ rất cao. Hơn nữa, khi họ thỏa mãn thì họ có xu hướng nói tốt về dịch vụ của công ty với khách hàng khác. Qua đó doanh nghiệp có thể có thêm những khách hàng mới, tạo dựng hình ảnh tốt đẹp và phát triển được thương hiệu.
Thêm một lợi ích nữa khi khách hàng thấy được thỏa mãn là chi phí để thu hút một khách hàng mới có thể lớn gấp nhiều lần chi phí để giữ một khách hàng cũ. Nghiên cứu về thỏa mãn khách hàng sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn sâu sắc về các nhân tố tiềm năng trong hình thành trạng thái thỏa mãn của khách hàng. Do vậy, sự thỏa mãn của khách hàng là một chủ đề được rất nhiều các nhà khoa học và các nhà thực tiễn quan tâm, cả trong nước và trên thế giới. Đã có rất nhiều tác giả đưa ra khái niệm về sự thoả mãn của khách hàng.
Xét theo thời gian, khái niệm về sự thỏa mãn của khách hàng được một số học giả đưa ra như sau: - Brown (1992) đưa ra khái niệm về sự thỏa mãn khách hàng là trạng thái cảm xúc mà ở đó nhu cầu và mong muốn của khách hàng về một sản phẩm hoặc dịch vụ được đáp ứng hoặc vượt lên trên cả sự trông đợi. Từ đó dẫn đến hành vi mua hàng 14 lặp lại, sự trung thành và truyền miệng những điều tốt đẹp về sản phẩm/dịch vụ/doanh nghiệp tới những người khác. - Oliver (1997) đưa ra khái niệm sự thỏa mãn của khách hàng là phản ứng trọn vẹn đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng. - Kotler (2001) đưa ra khái niệm rằng sự thoả mãn của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó.
- Bitner và Zeithaml (2003) đưa ra khái niệm cho rằng sự thỏa mãn của khách hàng là đánh giá của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ trong việc sản phẩm hay dịch vụ đó thỏa mãn nhu cầu và sự mong đợi của họ như thế nào.2 Sự thỏa mãn của khách hàng tổ chức và mô hình INDSAT Sự khác biệt lớn nhất trong quá trình mua sắm giữa khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức chính là quyết định mua của khách hàng tổ chức được tham gia bởi nhiều cá nhân. Theo Philip Kotler , đơn vị thông qua quyết định của tổ chức mua là “Trung tâm mua sắm” bao gồm tất cả các thành viên của tổ chức giữ bất kỳ vai trò nào trong sáu vai trò thuộc quá trình ra quyết định mua. Người sử dụng Người phê Người gây duyệt ảnh hưởng: Người ra Quyết định mua quyết định Người mua “Người gác cổng” Hình 2.1: Mô hình tham gia quá trình ra quyết định mua của khách hàng tổ chức Nguồn: Philip Kotler, Quản trị Marketing , NXB Thống kê (2003) 15 Theo Jeanne Rossomme (2003), khi xác định mức độ thỏa mãn của khách hàng tổ chức phải tiến hành đánh giá đối với tất cả các thành viên trong trung tâm mua sắm của tổ chức. Sự thỏa mãn của khách hàng được xem xét trong ba giai đoạn: trước khi mua, trong khi mua và sau khi mua.
Các nghiên cứu về sự thỏa mãn khách hàng ở Việt Nam cũng khá nhiều, nhưng dường như chủ yếu tập trung vào nghiên cứu đối với lĩnh vực B2C (hướng tới sự thỏa mãn của khách hàng là người tiêu dùng) như trong lĩnh vực ngân hàng, viễn thông, bán lẻ,.và cả trong lĩnh vực y tế - nghiên cứu sự hài lòng của bệnh nhân. Nghiên cứu sự thỏa mãn của khách hàng tổ chức ở Việt Nam dường như còn hạn chế. Khách hàng tổ chức có những đặc điểm riêng, nên tác giả đã nghiên cứu tài liệu và nhận thấy mô hình INDSAT (Homburga & Rudolphb, 2001) là cơ sở lý thuyết phù hợp cho nghiên cứu của tác giả. Theo mô hình INDSAT sự thỏa mãn của khách hàng tổ chức được đo lường theo 7 khía cạnh, bao gồm: sản phẩm, người bán hàng, thông tin liên quan tới sản phẩm, các dịch vụ kỹ thuật, xử lý đơn đặt hàng, sự tương tác với nhân viên nội bộ và xử lý các trường hợp than phiền về sản phẩm.
Trước tiên, sản phẩm là yếu tố cốt lõi trong việc trao đổi, và vì thế các đặc điểm của sản phẩm có lẽ có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đến mối quan hệ với khách hàng tổ chức. Trong trường hợp này, những đặc tính thường liên quan tới sản phẩm bao gồm mối liên hệ giá trị, giá cả hay chất lượng sản phẩm. Do những đặc tính phức tạp của sản phẩm trong công nghiệp nên tài liệu kỹ thuật hướng dẫn là rất cần thiết. Vì thế, giá trị và nội dung của tài liệu kỹ thuật hay tài liệu có liên quan khác cần phải được xem xét trong phạm vi thỏa mãn khách hàng tổ chức.
Các dịch vụ gắn với sản phẩm cũng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự thỏa mãn của khách hàng. Các dịch vụ không chỉ đi kèm với hàng hóa khách hàng tiêu thụ mà còn là nhu cầu của khách hàng trong việc điều hành công ty của họ. Ngoài các dịch vụ này, chúng ta không thể không đề cập đến các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm và các hệ thống hỗ trợ sau khi khách hàng đã mua hàng hóa. Vì có nhiều 16 sản phẩm có đặc tính khá phức tạp nên chúng đòi hỏi người sử dụng phải được hướng dẫn cách dùng.
Hai quy trình xử lý đơn đặt hàng và xử lý lời than phiền về sản phẩm của khách hàng là hai quy trình đặc biệt quan trọng trong việc thỏa mãn khách hàng tổ chức. Việc xử lý đơn đặt hàng bao gồm rất nhiều các quy trình nhỏ. Ví dụ như kế hoạch đặt hàng, lập đơn đặt hàng, hóa đơn đặt hàng, tiếp nhận đơn đặt hàng, sự sắp xếp và thực hiện đơn đặt hàng. Ngoài ra, việc phát hiện ra rằng mức độ tin cậy trong việc giao hàng cũng là một khía cạnh của quá trình xử lý đơn đặt hàng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các khách hàng tổ chức.
Bên cạnh việc xử lý đơn đặt hàng, việc xử lý những khiếu nại của khách hàng cũng được đề cập đến là quy trình thứ hai cần xem xét.