CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ MARKETING ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC. HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY. Khái niệm xuất khẩu. Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ vượt qua biên giới quốc gia trên cơ sở dùng tiền tệ làm đơn vị thanh toán.
Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia. Xuất khẩu hàng may là công ty may tiến hành sản xuất các sản phẩm rồi bán ra thị trường thế giới nhằm mục đích thu ngoại tệ. Các hình thức xuất khẩu hàng may. Trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói chung có nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau, mỗi hình thức xuất khẩu có một đặc điểm kỹ thuật riêng và phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp.
Các hình thức xuất khẩu hàng hoá thường gặp bao gồm: Xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp, xuất khẩu theo nghị định thư, gia công quốc tế, xuôn bán đối lưu, xuất khẩu uỷ thác, giao dịch qua trung gian, tái xuất khẩu… Các công ty may Việt Nam chủ yếu sử dụng ba hình thức xuất khẩu hàng may mặc đó là gia công quốc tế ( CMP ), xuất khẩu trực tiếp ( FOB ) và buôn bán đứt đoạn. Gia công quốc tế ( CMP ). Xuất khẩu hàng may theo phương thức gia công quốc tế ( CMP ) là hình thức được áp dụng phổ biến ở các quốc gia có lợi thế về nhân công nhưng lại chưa có khả năng tạo lập thương hiệu có uy tín để tìm chỗ đứng cho mình trên thị trường nước ngoài. Thực chất của xuất khẩu theo phương thức CMP là quan hệ kinh doanh giữa một công ty và một công ty thuộc quốc gia khác, nội dung của quan hệ này được tóm tắt như sau: 4 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp * Bên đặt gia công: Đặt yêu cầu về loại mặt hàng, sản lượng, yêu cầu về chất lượng, chi phí gia công, thời hạn giao hàng và các điều kiện khác; cung cấp nguyên phụ liệu chủ yếu; hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; kiểm định chất lượng và nhận hàng và thanh toán tiền gia công.
* Bên nhận gia công: Cân đối khả năng sản xuất của công ty ( máy móc thiết bị, lao động, khả năng sản xuất…) theo yêu cầu đặt hàng của bên đặt gia công; tự đảm bảo một số phụ liệu; tổ chức quá trình sản xuất; giao hàng và nhận tiền gia công. Phân loại các hình thức gia công quốc tế: * Theo quyền sở hữu nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm: - Nhận nguyên phụ liệu, giao thành phẩm: Bên đặt gia công chịu trách nhiệm đảm bảo toàn bộ nguyên phụ liệu cho bên nhận gia công, bên nhận gia công chỉ tiến hành sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công. Bên nhận gia công chỉ quản lý và sử dụng nguyên phụ liệu đã nhận để tiến hành sản xuất. - Mua nguyên phụ liệu, bán thành phẩm: công ty may sử dụng vốn lưu động của mình để mua nguyên phụ liệu chủ yếu từ bên đặt gia công và tiến hành sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công theo hợp đồng đã kí kết.
- Hình thức hỗn hợp: Công ty may sẽ mua một số nguyên phụ liệu từ bên đặt gia công số còn lại có thể mua từ các nhà sản xuất khác trong hoặc ngoài nước. Sản phẩm sản xuất ra được bán toàn bộ cho bên đặt gia công. * Theo số lượng chủ thể kinh tế tham gia vào quan hệ gia công: - Gia công hai bên:Bên đặt gia công đặt gia công tại công ty may, công ty sẽ đảm nhận toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm. - Gia công nhiều bên: một công ty may nhận gia công và giao lại một phần việc cho công ty may khác thực hiện.
Trong trường hợp này mọi việc giao dịch với bên đặt gia công do công ty may nhận gia công chính thức đảm nhận và cũng chính công ty đó phải chịu trách nhiệm với bên đặt gia công về những cam kết được ghi trong hợp đồng gia công. 5 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2. Xuất khẩu trực tiếp ( FOB ). Theo phương thức xuất khẩu trực tiếp ( FOB ) công ty may sẽ chủ động mua các nguyên vật liệu đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất thay vì được cung cấp bởi người mua nước ngoài.
Vì vậy xuất khẩu hàng may mặc theo phương thức FOB công ty may được thanh toán toàn bộ giá trị của sản phẩm. Hiện nay các công ty may Việt Nam thường xuất khẩu trực tiếp theo ba phương thức sau: - Loại 1: Công ty may mua nguyên vật liệu đầu vào để tiến hành sản xuất từ nhà cung cấp do bên đặt hàng nước ngoài chỉ định. Bên đặt hàng nước ngoài không chỉ lực chọn nhà cung cấp mà còn mô tả chính xác chủng loại, màu sắc và phụ kiện mà công ty may phải mua để tiến hành sản xuất sản phẩm. Thêm vào đó những vấn đề liên quan đến quy mô sản xuất, giá cả và thời hạn giao hàng cũng được bên đặt hàng quyết định và ghi trong hợp đồng.
Sự khác biệt cơ bản giữa phương thức này với phương thức CMP là mọi rủi ro về sản xuất, marketing, tiêu thụ bên đặt hàng phải gánh chịu. - Loại 2: Công ty may nhận mẫu hàng may từ phía bạn hàng. Dựa trên mẫu này công ty may tiến hành sản xuất các sản phẩm tương tự, nguyên phụ liệu sử dụng trong quá trình sản xuất do công ty tự quyết định về chủng loại, nhà cung cấp mà không có sự gợi ý hay cam kết gì với bên đặt hàng. Nếu các sản phẩm tương tự công ty sản xuất ra được bên đặt hàng chấp nhận thì hai bên sẽ tiến hành kí kết hợp đồng kinh doanh, công ty may sẽ tiến hành sản xuất sản phẩm theo quy cách của sản phẩm mẫu đã sản xuất.
- Loại 3: Công ty sản xuất hàng mẫu theo thiết kế của riêng mình và đưa ra giới thiệu với khách hàng nước ngoài thông qua các cuộc hội trợ, triển lãm, qua internet, quảng cáo… nếu khách hàng thấy mẫu mã đó phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nước mình thì hai bên sẽ tiến hành đàm phán để kí kết hợp đồng kinh doanh. Để tiến hành xuất khẩu theo phương thức này công ty may phải có thương hiệu riêng hoặc phải sản xuất hàng may mặc theo thương hiệu đã được đăng kí với thiết kế của riêng mình. Theo phương thức này công 6 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp ty may tự chủ động về mẫu mã chủng loại sản phẩm, nguyên phụ liệu sản xuất sản phẩm, giá thành sản phẩm, số lượng sản phẩm sản xuất…vì vậy công ty có thể thu được lợi nhuận rất lớn tuy nhiên công ty phải gánh chịu toàn bộ những rủi ro trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Buôn bán đứt đoạn.
Theo phương thức này Công ty may mua nguyên phụ liệu từ nhiều nước khác nhau sau đó tiến hành sản xuất các sản phẩm may mặc. Sản phẩm hoàn thành sẽ được bán cho nước thứ ba rồi tiếp tục được các nước này xuất khẩu sang các thị trường khác. QUẢN LÝ MARKETING ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY MAY. Khái niệm quản lý marketing.
Marketing bao gồm tất cả những suy nghĩ, tính toán và hoạt động của nhà kinh doanh sản xuất tiêu thụ và cả những dịch vụ sau khi bán hàng; hoặc Marketing là quá trình thích nghi toàn diện với việc tận dụng những khả năng có lợi đang mở ra của thị trường. Quản lý marketing là việc quản lý có hiệu quả hoạt động marketing thông qua quá trình phân tích các khả năng của thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu thích hợp, xây dựng hệ thống marketing – mix và quản lý tốt việc thực hiện những nỗ lực marketing. Quá trình quản lý marketing đối với hoạt động xuất khẩu của các công ty may. Quản lý marketing xuất khẩu khác với quản lý marketing nội địa đó là doanh nghiệp phải tính đến sự can thiệp của chính quyền sở tại, tính đa dạng của các điều kiện thị trường bên ngoài và đòi hỏi những kiến thức riêng như kỹ thuật marketing, hiểu biết môi trường bên ngoài, khả năng và mức độ sử dụng kiến thức tích luỹ.
Vì vậy khi xây dựng các chính sách marketing xuất khẩu hàng hoá doanh nghiệp cần phải đảm bảo sự cân bằng giữa chính sách 7 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp marketing với những thay đổi của các yếu tố bên ngoài trên thị trường quốc tế. Quá trình quản lý marketing của các Công ty xuất khẩu hàng may mặc bao gồm 5 giai đoạn: - Nghiên cứu môi trường quốc tế. - Phân tích các khả năng của thị trường. - Lựa chọn những thị trường mục tiêu.
- Xây dựng chương trình marketing – mix. - Thực hiện các biện pháp marketing. Nghiên cứu môi trường quốc tế. Trên thị trường quốc tế ba môi trường đặc biệt quan trọng mà các Công ty may cần phải chú ý đó là môi trường kinh tế, môi trường văn hoá và môi trường chính trị - pháp luật.
Môi trường kinh tế. Môi trường kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động xuất khẩu của các công ty may, nó phản ánh tiềm năng thị trường và hệ thống cơ sở hạ tầng của một quốc gia qua đó các công ty may có thể quyết định xem đó có phải là thị trường mục tiêu của mình hay không. Việc xác định và đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường có thể căn cứ vào 3 yếu tố: dân số, cơ cấu kinh tế và mức sống của dân cư. Trong những năm gần đây, môi trường marketing quốc tế có nhiều thay đổi do xu hướng nhất thể hoá kinh tế với nhiều mức độ khác nhau như khu vực mậu dịch tự do, khu vực thống nhất thuế quan, khu vực thị trường chung, khu vực hợp nhất kinh tế…xu hướng này có tác động đến hoạt động xuất khẩu của các quốc gia và các doanh nghiệp theo hai hướng: tạo ra sự ưu đãi cho nhau và kích thích tăng trưởng của các thành viên.
Qua nghiên cứu môi trường kinh tế các công ty may có thể đưa ra những quyết định về thị trường xuất khẩu dựa vào khả năng của mình. 8 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2. Môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá có ảnh hưởng đặc biệt đến hoạt động marketing xuất khẩu của các công ty may trên thị trường quốc tế.
Do mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng quyết định mạnh mẽ đến hành vi, thái độ, sở thích, tâm lý… của người tiêu dùng của quốc gia, dân tộc đó.