phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dự án đầu tƣ và quản lý dự án đầu tƣ. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý dự án tại BQLDACCT TP Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình tại BQLDACCT TP Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. 3 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ 1.1 Tổng quan về dự án đầu tƣ.1 Khái niệm đầu tư.
Theo Luật đầu tƣ số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 thì: “Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Đầu tƣ là một phạm trù đặc biệt đối với phạm trù kinh tế, xã hội của đất nƣớc. Có nhiều cách hiểu về khái niệm này, theo nghĩa rộng nhất, có thể hiểu là quá trình bỏ vốn, bao gồm cả tiền, nguồn lực và công nghệ để đạt đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. Trong hoạt động kinh tế, đầu tƣ mang bản chất kinh tế, đó là quá trình bỏ vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tƣ, chẳng hạn theo tiêu thức quan hệ hoạt động quản lý của Chủ đầu tƣ, có hai loại: Đầu tƣ trực tiếp và đầu tƣ gián tiếp. Đầu tƣ trực tiếp là hình thức trong đó ngƣời bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Đầu tƣ gián tiếp là hình thức đầu tƣ trong đó ngƣời bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Chẳng hạn nhƣ nhà đầu tƣ thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tƣ chứng khoán: Trong trƣờng hợp này nhà đầu tƣ có thể đƣợc hƣởng các lợi ích nhƣ cổ tức, tiền lãi trái phiếu… nhƣng không đƣợc tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình bỏ vốn đầu tƣ.
Đầu tƣ phát triển là một phƣơng thức của đầu tƣ trực tiếp, hoạt động đầu tƣ này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Đầu tƣ phát triển là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt, bồi dƣỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thƣờng xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội. 4 Đầu tƣ xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tƣ nói chung. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản, từ việc khảo sát và quy hoạch đầu tƣ, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.
Nhƣ vậy, đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc chủ thể kinh tế bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Đầu tƣ XDCB có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo hoạt động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển. Thực tế lịch sử đã cho thấy bất cứ một phƣơng thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có sơ sở vật chất - kỹ thuật tƣơng ứng. Các hoạt động đầu tƣ thƣờng tiến hành theo dự án, vậy thế nào là một dự án, nên tiến hành quản lý dự án nhƣ thế nào.
Theo Luật xây dựng đƣợc Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 06 năm 2014 thì: Dự án đầu tƣ xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lƣợng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định”. Dự án đầu tƣ xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở. Khi đầu tƣ xây dựng công trình, chủ đầu tƣ xây dựng công trình phải lập dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả về kinh tế - xã hội của dự án. Dự án đầu tƣ xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau đây: - Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng.
- Có phƣơng án thiết kế và phƣơng án công nghệ phù hợp. 5 - An toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, an toàn phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trƣờng. - Đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án.2 Công dụng của dự án đầu tư. Đối với các cơ quan quản lý nhà nƣớc: dự án đầu tƣ là cơ sở thẩm định và ra quyết định đầu tƣ.
Trên góc độ Chủ đầu tƣ: Dự án đầu tƣ là căn cứ để xin phép đầu tƣ và giấy phép hoạt động, xin phép nhập khẩu máy móc vật tƣ kỹ thuật, xin hƣởng các khoản ƣu đãi đầu tƣ, xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nƣớc, là căn cứ để kêu gọi góp vốn hoặc phát hành các cổ phiếu, trái phiếu… Dự án đầu tƣ khi đƣợc xây dựng sẽ đem lại những kết quả KT - XH to lớn: Kết quả trực tiếp: công trình cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng tạo điều kiện giao thông thuận lợi, phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tƣ khác khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình thay đổi. Kết quả gián tiếp: tạo công ăn việc làm, nhiều ngành nghề mới phát sinh trong khu vực có công trình xây dựng đƣợc tạo nên, tạo cảnh quan đô thị. Đặc điểm của dự án đầu tư. Dự án có mục đích, kết quả xác định.
Điều này thể hiện tất cả các dự án đều phải có kết quả đƣợc xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một con đƣờng, một dây chuyền sản xuất… Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện. Mỗi nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.
Dự án chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án đƣợc chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán. Dự án có sự tham gia của nhiều bên nhƣ: Chủ đầu tƣ, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tƣ, cơ quan quản lý nhà nƣớc.
Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan nhƣ chủ đầu tƣ, ngƣời hƣởng từ dự án, các nhà tƣ vấn. 6 Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Kết quả của dự án có tính khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại duy nhất. Môi trƣờng hoạt động “va chạm” quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức.
Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… Trong quản lý, nhiều trƣờng hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trƣởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh lại mâu thuẫn nhau… do đó, môi trƣờng quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhƣng năng động. Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tƣ phát triển. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tƣ và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Phân loại dự án đầu tư và quản lý Nhà nước đối với dự án XDCT.
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ quy định các dự án đầu tƣ xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án) đƣợc phân loại nhƣ sau: Theo quy mô và tính chất: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua và cho phép đầu tƣ; các dự án còn lại phân thành 3 Nhóm A, Nhóm B, Nhóm C. Về phƣơng diện quản lý, tuy có nhiều nét chung xong do đặc điểm của dự án của các nhóm là khác nhau nên khi quản lý cần áp dụng phƣơng pháp và công cụ quản lý khác nhau. Các dự án nhóm A, B thƣờng đƣợc đặt ra nhiều vấn đề về quản lý cần đƣợc nghiên cứu và giải quyết. Các dự án nhóm C cho phép áp dụng một cách đơn giản và có hiệu quả các phƣơng pháp định lƣợng.
Theo nguồn vốn đầu tư: Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc; Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà cƣớc bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc. Dự án sử dụng vốn đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp nhà nƣớc. Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tƣ nhân hoặc sử dụng vốn hỗn hợp nhiều nguồn vốn. 7 Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nƣớc do cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nƣớc.
Phân loại theo mục đích. Căn cứ vào các chức năng hay mục đích của các dự án, ngƣời ta chia dự án thành: - Dự án đầu tƣ chiều sâu. - Dự án đầu tƣ mở rộng. - Dự án đầu tƣ mới.
Việc phân loại theo cách này chúng ta thấy mức độ phức tạp và mức độ rủi ro của các dự án tăng dần. Vòng đời của dự án đầu tư. Mỗi dự án đầu tƣ xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ ràng nên dự án có một vòng đời.