CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC 1. Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục 1. Khái niệm Phát triển Giáo dục - Đào tạo chính là động lực của sự phát triển Kinh tế - Xã hội. Để mở rộng, phát triển và nâng cao hiệu quả của Giáo dục - Đào tạo, chúng ta cần phải có nguồn lực để đáp ứng nhiệm vụ chi cho lĩnh vực này.
Trong những năm quá, vốn đầu tư cho Giáo dục - Đào tạo được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng nguồn vốn từ NSNN vẫn giữ nhiệm vụ quan trọng nhất, bởi Giáo dục - Đào tạo là lĩnh vực nhạy cảm, mang tính quy mô lớn, tầm cỡ quốc gia, cần có sự chỉ đạo của Chính phủ, sự quản lý chặt chẽ của các cấp, ngành, địa phương và toàn xã hội. Hàng năm, Chính phủ đều dành một phần lớn nguồn lực trong tổng chi NSNN cho Giáo dục - Đào tạo. Cùng với Khoa học - Công nghệ, Giáo dục - Đào tạo là một trong hai chỉ tiêu “cứng” trong việc phân bổ nguồn lực. Chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục là các khoản chi tiêu của Ngân sách dành cho các cơ sở Giáo dục - Đào tạo để duy trì sự hoạt động của đơn vị trên cở sở thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trên địa bàn.
Phân loại Phân loại chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục bao gồm 4 nhóm chi chính: Nhóm 1: Các khoản chi cho con người Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như: tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các khoản khác. Trong đó: Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng. Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp ưu đãi nghề giáo, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp độc hại,. Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác.tri 5 van (Luan.tri Phúc lợi tập thể gồm: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, trợ cấp khó khăn đột xuất, tiền tàu xe, phúc lợi khác.
Các khoản đóng góp: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn. Nhóm 2: Chi về quản lý hành chính Nhóm này bao gồm các khoản chi: Chi thanh toán dịch vụ công cộng (tiền điện, tiền nước, nhiên liệu, vệ sinh môi trường và dịch vụ công cộng khác); Chi vật tư văn phòng (gồm văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ và vật tư văn phòng khác); Chi thông tin liên lạc (gồm điện thoại, fax, tuyên truyền, ấn phẩm truyền thông.); Chi công tác phí (tiền vé máy bay, tàu xe, phụ cấp công tác phí, thuê phòng ngủ, khoán công tác phí và công tác phí khác); Chi hội nghị phí (gồm tài liệu, bồi dưỡng giảng viên, thuê phòng ngủ, thuê hội trường và các chi phí khác). Nhóm 3: Chi cho hoạt động chuyên môn Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác giáo dục. Khoản chi này bao gồm: Chi mua tài liệu, đồ dùng giảng dạy và học tập, chi hội thảo, hội giảng, chi cho các lớp bồi dưỡng học sinh, bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn.
Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản Chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt động chuyên môn như: Mua sắm bàn ghế, bảng, thiết bị dạy học, máy chiếu, máy photocopy và các trang thiết bị khác, sửa chữa nhỏ trong trường. phục vụ hoạt động giảng dạy. Đặc điểm Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN để đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên của cơ quan quản lý nhằm đảm bảo cho các cơ quan đơn vị quản lý thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang đầy đủ các đặc điểm của chi thường xuyên NSNN, cụ thể: Thứ nhất: Đại bộ phận các khoản chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục mang tính ổn định khá rõ nét.
Nhận biết được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế đất nước và để thực hiện các mục tiêu (Luan.tri 6 van (Luan.tri chiến lược phát triển quốc gia, vì vậy cần phải có khoản đầu tư ổn định và thích đáng cho ngành giáo dục. Do đó hàng năm, Nhà nước ta phải trích một khoản chi NSNN để đầu tư cho ngành giáo dục (chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn) bất kể nền kinh tế quốc gia đang tăng trưởng hay suy thoái. Thứ hai: Xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Tuy nhiên khi xét về tác dụng lâu dài thì đây là khoản chi mang tính chất tích lũy đặc biệt.
Khoản chi này là một trong những nhân tố quyết định tới việc tăng trưởng kinh tế trong tương lai vì nó không mất đi sau quá trình tiêu dùng mà tạo thành “chất xám” của con người cho tiêu dùng trong tương lại. Xã hội ngày càng phát triển thì mọi của cải làm ra, tỷ lệ “chất xám” trong sản phẩm đó càng lớn. Thứ ba: Phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hoá công cộng. Như chúng ta đã biết, giáo dục là hàng hóa công cộng, trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước hiện nay thì hoạt động giáo dục có sự chăm lo của cả Nhà nước và người dân, nhờ vậy mà Nhà nước có thể thu hẹp được phạm vi và hạ thấp mức chi cho lĩnh vực này.
Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện 1. Khái niệm Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN nhằm thực hiện các chức năng vốn có của các cơ sở GD&ĐT trong việc triển khai chức năng, nhiệm vụ được giao. Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục bao gồm hệ thống các yếu tố sau: Đối tượng quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục: là toàn bộ các khoản chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục.tri 7 van (Luan.tri Chủ thể quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục cấp huyện là thủ trưởng các cơ quan đơn vị được giao sử dụng ngân sách. Công cụ và phương pháp quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục trên địa bàn cấp huyện: công cụ quản lý gồm các chế độ, chính sách, các tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành tác động lên đối tượng và chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý chi NSNN.
Sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản của quản lý chi thường xuyên NSNN cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục, đó là sử dụng chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục một cách hợp lý, tiết kiệm. Nội dung quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục 1. Quản lý quá trình lập dự toán chi thường xuyên NSNN "Quản lý theo dự toán” là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi ngân sách Nhà nước. Khi lập dự toán chi Ngân sách Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục phải dựa trên những căn cứ sau: Thứ nhất: Phải xác định được căn cứ lập dự toán, tạo cơ sở cho việc xây dựng dự toán chi thường xuyên NSNN toàn diện, bao quát được toàn bộ nguồn thu và nhiệm vụ chi thường xuyên NSNN cho lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo.
Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về duy trì phát triển sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo trong từng thời kỳ; hệ thống chính sách, chế độ, các định mức, tiêu chuẩn thu, chi của Nhà nước. Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi ngân sách cho Giáo dục - Đào tạo có sự cân đối với dự toán chi ngân sách cho các lĩnh vực khác. Thứ hai: Phải dựa vào chỉ tiêu kế hoạch phát triển Giáo dục - Đào tạo, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí của ngân sách trong kỳ như chỉ tiêu về số lượng trường, lớp, biên chế, số lượng giáo viên, học sinh, sinh viên. Thứ ba: Căn cứ nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách cũng như khả năng đáp ứng của NSNN trong kỳ kế hoạch để lập dự toán.tri 8 van (Luan.tri Thứ tư: Các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu sử dụng kinh phí NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch.
Thứ năm: Căn cứ vào kết quả phân tích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí của năm trước. Quy trình lập kế hoạch chi cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục được tiến hành theo các bước sau: Bước 1: Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu - chi NSNN kỳ kế hoạch để xác định mức chi dự kiến phân bổ cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục. Trên cơ sở đó, hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí. Bước 2: Các đơn vị sự nghiệp giáo dục căn cứ vào chỉ tiêu được giao (số kiểm tra) và văn bản hướng dẫn của cấp trên sẽ lập dự toán kinh phí của đơn vị mình để gửi lên đơn vị dự toán cấp trên (gồm Phòng Giáo dục - Đào tạo và Cơ quan tài chính).
Cơ quan tài chính xét duyệt tổng hợp dự toán chi Ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục vào dự toán chi NSNN nói chung để trình cơ quan chính quyền và cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt.