Chương 1: Tổng quan chung về quản lý chất lượng lao động nước ngoài là giáo viên giảng dạy tại các trung tâm ngoại ngữ Chương 2: Thực trạng quản lý chất lượng lao động nước ngoài là giáo viên giảng dạy tại các trung tâm ngoại ngữ tại Hạ Long Chương 3: Giải pháp quản lý chất lượng lao động nước ngoài là giáo viên giảng dạy tại các trung tâm ngoại ngữ tại Hạ Long. TỔNG QUAN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG LĐNN LÀ GIÁO VIÊN GIẢNG DẠY TẠI CÁC TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ 1. Khái niệm chung về quản lý chất lƣợng ngƣời lao động 1. Khái niệm quản lý chất lượng người lao động Khái niệm quản lý Trong các tài liệu quốc tế, thuật ngữ quản lý tương đồng với một số thuật ngữ ngoại ngữ như “Management” và “Administration”.
Theo từ điểm Cambridge, “Management” được định nghĩa là sự kiểm soát hay tổ chức một điều gì đó, còn “Administration” được định nghĩa là sự sắp xếp các nhiệm vụ cần thiết để kiểm soát hoạt động của một dự án hoặc tổ chức. Có thể thấy rằng cả 2 thuật ngữ này có sự tương đồng về ý nghĩa bản chất. Tuy nhiên ý nghĩa của “Management” rộng hơn, bao quát hơn và đề cập đến vai trò cao của người quản lý khi đưa ra quyết định, còn “Administration” lại mang tính hàn lâm hơn khi thường được sử dụng trong các dự án hoặc tổ chức thuộc chính phủ/phi chính phủ.Mác quan niệm: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” (C.Mác, hoạt động quản lý nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để tạo sự thống nhất trong tổng thể quá trình sản xuất.
Ở đây có thể thấy C.Mác đã tiếp cận khái niệm “quản lý” từ góc độ mục đích. Theo từ điển Hán Việt, thuật ngữ “Quản lý” là sự kết hợp của hai yếu tố là “quản” và “lý”. Trong đó “quản” là “trông coi, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định”. “Lý” là có nghĩa “sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế phát triển”.
(Giới, 2011) Như vậy theo gốc Hán Việt thì bản chất của quản lý là cách thức tác động vào các sự vật, sự việc (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý 8 đến khách thể và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được các mục tiêu đã đề ra. Theo Nguyễn Minh Đạo, nói đến quản lý xã hội ở tầm vĩ mô thì “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội… bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” (Đạo, 1997) Theo giáo trình giáo dục học, tập 2 do Trần Thị Tuyết Oanh chủ biên định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm lực, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” (Oanh, 2009) Theo Dương Thị Nào thì: “Quản lý là một loại hoạt động trong đó chủ thể đề ra những mục tiêu cần phải đạt và những chủ trương, biện pháp kế hoạch phải thực hiện, lựa chọn nhân sự, thời gian, huy động và sử dụng vật lực và tài lực hiện có và sẽ có, tổ chức và điều hành bộ máy nhân lực để thực hiện những chủ trương, biện pháp và kế hoạch nói trên một cách đúng đắn, có chất lượng và hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể đã đề ra”. (Nào, 2013) Theo Phạm Kim Oanh, quản lý được hiểu “là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến một mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường”. (Oanh, 2022) Các định nghĩa trên đã đề cập đến các phương diện của quản lý như cách thức thể hiện, mục đích thực hiện việc quản lý.
Dù có những cách tiếp cận khác nhau nhưng đều làm nổi bật bản chất của quản lý được thể hiện như thế nào trong các lĩnh vực. Qua đó có thể thể thấy quản lý vừa là hoạt động mang tính xã hội, vừa là hoạt động mang tính khoa học. Nó cho thấy sự phát triển của một hệ ý thức hiện đại, là kết quả của quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại. 9 Tựu chung lại, tác giả đưa ra khái niệm về quản lý là: Quản lý là quá trình bao gồm các hoạt động lựa chọn nhân sự, sắp xếp thời gian, sử dụng công cụ một cách hiệu quả và đúng đắn để tiến hành việc tổ chức, điều hành, chỉ huy bộ máy nhân sự nhằm mục đích thực hiện những mục tiêu đã đề ra.
Trong đó người quản lý sẽ là người đứng đầu bộ phận, tổ chức, cơ quan… Họ sẽ là những người trực tiếp nắm quyền kiểm soát, điều hành, ra nhiệm vụ cho người lao động cấp dưới thực hiện và đưa ra quyết định cuối cùng cho những vấn đề chung của cộng đồng, doanh nghiệp hay tổ chức. Có thể thấy hoạt động quản lý có lịch sử hình thành từ lâu đời, kể từ khi hình thành lối sống bầy đàn. Cho đến nay hoạt động quản lý đã phát triển cùng với sự phân hoá về chức vụ, quyền hạn được trao cho những cá nhân hội tụ đủ tài lực, trí lực, tâm lực. Sự phân chia về cấp bậc cho thấy sự phát triển về hệ thống quản lý chặt chẽ và mang lại hiệu quả cao hơn.
Khái niệm chất lượng người lao động Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nhất quán về chất lượng người lao động. Theo Nguyễn Hữu Thân: “Chất lượng nguồn lao động khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,.); phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của người lao động và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động”. (Thân, 2010) Nguyễn Thanh Hội (2010) cho rằng “chất lượng người lao động được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ”. (Hội, 2010) Còn theo Trần Kim Dung (2018) thì “chất lượng người lao động được đánh giá trên các khía cạnh như trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.
Vì vậy việc đánh giá chất lượng người lao động cần dựa trên các mặt khác nhau chứ không coi đó là các tiêu chí cần thiết và bắt buộc phải có”. (Dung, 2018) 10 Từ các khái niệm trên, có thể thấy rằng “chất lượng” là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Đây là yếu tố quan trọng để người sử dụng lao động đánh giá người lao động. Chất lượng người lao động thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của người lao động, bao gồm 3 yếu tố đó là: “(1) Trí lực (năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người); (2) Thể lực (trạng thái sức khoẻ của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động); và (3) Tâm lực (phẩm chất tâm lý xã hội: tác phong, tinh thần và ý thức trong lao động; cụ thể như: tác phong công nghiệp, có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo, năng động trong công việc, có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý).” (Dung, 2018) Khái niệm quản lý chất lượng người lao động Dựa vào những định nghĩa về “Quản lý” và “Chất lượng người lao động”, tác giả đưa ra định nghĩa về quản lý chất lượng người lao động như sau: Quản lý chất lượng người lao động là hoạt động lựa chọn, phân công, giám sát, quản lý nhân sự đáp ứng những yêu cầu đề ra (trí lực, thể lực và tâm lực) nhằm mục đích thực hiện công việc một cách có hiệu quả.
Chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc tồn tại và phát triển của tổ chức và việc không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một yêu cầu sống còn của các tổ chức. Đầu tư vào con người được xem là đầu tư hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng nhanh và bền vững của một tổ chức, doanh nghiệp. Việc quản lý chất lượng người lao động sẽ giúp các doanh nghiệp kiểm soát tốt nội bộ, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Mục tiêu, nguyên tắc quản lý chất lượng người lao động Mục tiêu quản lý chất lượng người lao động Quản lý chất lượng người lao động có hai mục tiêu cơ bản: Thứ nhất là để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt. Số 11 lượng doanh nghiệp mới bước chân vào thị trường với những tiềm lực về vốn và kỹ thuật đã tạo ra những áp lực cho các doanh nghiệp cũ muốn tồn tạo và phát triển thì buộc phải cải tổ tổ chức theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, hiệu quả.