Chương 1: Cơ sở lý thuyết nhận thức của công chúng về bảo hiểm xã hội Chương 2: Thực trạng nhận thức công chúng về bảo hiểm xã hội tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Chương 3: Giải pháp nâng cao nhận thức công chúng về bảo hiểm xã hội tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NHẬN THỨC CÔNG CHÚNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Các vấn đề chung về bảo hiểm xã hội và nhận thức công chúng 1.Tổng quan về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệmvà bản chất của bảo hiểm xã hội Khi bàn về BHXH, có các cách hiểu khác nhau về BHXH: Từ góc độ pháp luật: BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ NLĐ, sử dụng tiền đóng góp của NLĐ, NSDLĐ, NLĐ và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết.
Từ góc độ tài chính: BHXH là thuật (kỹ thuật) chia sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Từ góc độ chính sách xã hội: BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống vật chất cho NLĐ khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội…. Nhìn chung, các khái niệm về BHXH đã được đề cập có thể đi từ các góc độ khác nhau, song đều cho thấy rõ mục tiêu của BHXH là nhằm thay thế hoặc bù đắp thu nhập để đảm bảo ổn định đời sống của NLĐ và gia đình khi NLĐ gặp phải các biến cố gây mất hoặc giảm thu nhập. Đối tượng được BHXH chính là phần thu nhập có thể bị mất hoặc giảm của NLĐ được bảo hiểm.
Trong khi đó, người được bảo hiểm trong BHXH là những NLĐ có quyền BHXH mà theo đó nếu sự kiện được bảo hiểm xảy ra họ sẽ được khiếu nại nhận trợ cấp BHXH hoặc thân nhân của họ được khiếu nại để hưởng trợ cấp. Luận văn sử dụng khái niệm BHXH theo Giáo trình Bảo hiểm của trường Đại học Kinh tế Quốc dân như sau: 9 “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn đến mất thu nhập trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần bảo đảm An sinh xã hội" Thực chất BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xã hội” hoặc các sự kiện bảo hiểm. Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH. Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, già yếu, chết.
Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những người trẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ (nam giới) và người sinh đẻ (nữ giới); giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp. Để dễ hình dung có thể dùng “lát cắt ngang” vào một tập hợp những người đang và đã tham gia BHXH vào bất kỳ thời điểm nào vào bất kỳ “đoạn” nào của tập hợp ta đều có thể thấy được mối quan hệ của sự phân phối này. ở lát cắt này có cả người mới tham gia BHXH, người đang hưởng BHXH; người khỏe mạnh, người ốm đau; người già, người trẻ; người có thu nhập cao, người có thu nhập thấp. Nói cách khác, đây là sự phân phối lại thu nhập theo không gian.
Qua đây có thể thấy, BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ. BHXH là quá trình tổ chức sử dụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước để thoả mãn nhu cầu an toàn kinh tế của NLĐ và an toàn xã hội. BHXH mang cả bản chất kinh tế và cả bản chất xã hội. Về mặt kinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của NLĐ và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội.
Về mặt xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, NLĐ chỉ phải đóng góp một khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn trang trải 10 những rủi ro xảy ra. ở đây, BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”. Tuy nhiên, tính kinh tế và tính xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen lẫn nhau. Khi nói đến sự bảo đảm kinh tế cho NLĐ và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội của BHXH, ngược lại, khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro xã hội thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH.
Vai trò của bảo hiểm xã hội Thứ nhất, đối với NLĐ: BHXH trực tiếp góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi NLĐ gặp rủi ro hay sự kiện bảo hiểm. Đồng thời,BHXH cũng là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của thành viên khác. Từ đó, các rủi ro trong lao động sản xuất và trong đời sống được khống chế và dàn trải, hậu quả của rủi ro được khắc phục kịp thời. Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi dùng cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản tiền nhỏ, đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi già cả hay mất sức lao động….Đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần vô cùng to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, làm họ ổn định về tâm lý, giảm bớt lo lắng khi ốm đau, tai nạn, tuổi già….
Nhờ có BHXH, cuộc sống của những thành viên trong gia đình NLĐ, nhất là trẻ em, người già cũng được đảm bảo an toàn hơn. Thứ hai, đối với NSDLĐ: Phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định để bảo hiểm cho NLĐ mà mình sử dụng, điều đó cũng ít nhiều ảnh hưởng đến thu nhập của NSDLĐ, song về lâu về dài BHXH giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh. Nếu không có BHXH, các đơn vị sử dụng lao động trả tiền bảo hiểm cùng tiền lương hàng tháng để NLĐ tự lo thì nguồn tiền này có thể bị sử dụng vào những nhu cầu, mục đích khác. Đến khi NLĐ ốm đau, tai nạn….không có nguồn thu nhập, không có chi phí thuốc men….đời sống của họ bị ảnh hưởng thì quan hệ lao động, chất lượng lao động sẽ bị ảnh hưởng.
Qua việc phân phối chi phí cho NLĐ hợp lý, 11 BHXH sẽ góp phần làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn định, sản xuất diễn ra liên tục, hiệu quả, các bên trong quan hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn. BHXH còn làm cho NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ, không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời họ cho đến khi già yếu. Như vậy BHXH làm cho quan hệ lao động có tính nhân văn sâu sắc.BHXH giúp cho NSDLĐ ổn định nguồn chi, ngay cả khi có rủi ro lớn xảy ra thì cũng không lâm vào tình trạng nợ nần hay phá sản. Nhờ đó các chi phí được chủ động hạch toán, ổn định và tạo điều kiện để phát triển không phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh khách quan.
Tuy nhiên, BHXH hầu như không mang lại lợi ích trực tiếp nên không phải bao giờ NSDLĐ cũng nhận thức đúng được vai trò của nó. Thứ ba, đối với nền kinh tế - xã hội: BHXH tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội, củng cố truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội. Thông qua BHXH, những rủi ro trong đời sống của NLĐ được dàn trải theo nhiều chiều, tạo ra khả năng giải quyết an toàn nhất với chi phí thấp nhất.BHXH là cơ sở để phát triển các bộ phận an sinh xã hội khác. Căn cứ vào mức độ bao phủ của BHXH, Nhà nước xác định những đối tượng nào còn gặp khó khăn, cần được sự giúp đỡ của cộng đồng nhưng chưa được tham gia BHXH để thiết kế những mạng lưới khác của an sinh xã hội như cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội…Trên cơ sở đó BHXH là căn cứ để đánh giá trình độ rủi ro của từng quốc gia và mức độ đảm bảo an sinh xã hội đạt được ở mỗi nước.
BHXH còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nếu kinh tế chậm phát triển, xã hội lạc hậu, đời sống nhân dân thấp kém thì hệ thống BHXH cũng chậm phát triển ở mức tương ứng. Khi kinh tế càng phát triển, đời sống của NLĐ càng được nâng cao thì nhu cầu tham gia BHXH của họ càng lớn. Thông qua hệ thống BHXH, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của nhà nước cũng ngày càng được nâng cao thể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm, quản lý rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ BHXH ….
12 Hoạt động BHXH còn góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội phát triển. Đặc biệt với bảo hiểm hưu trí, nguồn vốn tích lũy trong thời gian dài, kết dư tương đối lớn, có thể đầu tư vào các doanh nghiệp, các dự án cần huy động vốn lớn, mang lại lợi ích cho tất cả các bên: người tham gia BHXH, cơ quan BHXH và nền kinh tế xã hội nói chung. Nhận thức công chúng về bảo hiểm xã hội Nhận thức Theo Từ điển tiếng Việt, nhận thức là “quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó”.