Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây có múi là loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng phát triển chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại của cây, các yếu tố sinh thái và kỹ thuật canh tác. Trong đó, các yếu tố về sinh thái ít có sự thay đổi, hoặc có thay đổi cũng mang tính quy luật và thường diễn ra trong khoảng thời gian dài; Những đặc tính ưu việt của giống được biểu hiện qua khả năng sinh trưởng, phát triển, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi biện pháp kỹ thuật canh tác. Tuyên Quang là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc có tiềm năng phát triển cây ăn quả đặc biệt là cây ăn quả có múi.
Đặc điểm khí hậu của tỉnh Tuyên Quang là có mùa Đông lạnh, sự chênh lệch biên độ giữa các tháng và trong mùa Đông tương đối lớn, rất thuận lợi cho cây ăn quả cây có múi của vùng ra hoa đậu quả, có hương vị đặc trưng, mẫu mã đẹp. Cắt tỉa là biện pháp cơ giới nhằm điều khiển quá trình sinh trưởng phát triển của cây để cây cho năng suất cao và ổn định, bởi sự ra hoa, đậu quả của cây luôn có mối quan hệ chặt chẽ với khả năng sinh trưởng, khi cây sinh trưởng thân lá mạnh sẽ ức chế sự ra hoa đậu quả. Dựa vào tỷ lệ C/N, hàm lượng các chất carbonhydrate dự trữ được coi như là yếu tố giới hạn cho sự ra hoa và phát triển quả của cây thân gỗ (dẫn theo Nguyễn Văn Vượng và cs. Người ta thực hiện biện pháp khoanh cành để cây nghỉ sinh trưởng, phân hóa mầm hoa, ra hoa đậu quả và chống rụng quả trên cây có múi.
Cây ăn quả nói chung và cây bưởi nói riêng, cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng đạm, lân, kali và các nguyên tố vi lượng. Mỗi nguyên tố dinh dưỡng có một vai trò nhất định trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Đạm, lân, ka li là những nguyên tố không thể thiếu được trong quá trình sinh trưởng và có vai trò quyết định đến năng suất, phẩm chất luan an 6 của quả. Việc xác định tỷ lệ và liều lượng bón NPK phù hợp cho cây bưởi là vấn đề cần thiết để đề xuất hoàn thiện quy trình thâm canh tăng năng suất bưởi Xuân Vân ở Tuyên Quang.
Gibberellin (GA,GA3) là một hormones kích thích sự sinh trưởng và kéo dài và nhanh chóng của cụm hoa, có tác dụng giống auxin là làm tăng kích thước của quả và tạo quả không hạt. Vì vậy việc phun bổ sung GA3 ngoại sinh sẽ làm ức chế quá trình tổng hợp axít abscisic (ABA) làm tăng khả năng ra hoa đậu quả, làm giảm số hạt trong quả và làm giảm phát sinh tầng rời ở cuống hoa, quả từ đó làm tăng tỷ lệ đậu quả của cây bưởi. Nguyên tắc chung của các phương pháp bảo quản rau quả tươi là ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật, hạn chế các biến đổi sinh lý, sinh hoá, đảm bảo giá trị dinh dưỡng, cảm quan và vệ sinh an toàn thực phẩm. Màng phủ có thể tạo ra vùng vi khí quyển điều chỉnh xung quanh quả do đó làm thay đổi sự trao đổi khí với không khí xung quanh.
Màng phủ làm giảm tổn thất khối lượng và làm chậm sự nhăn nheo của quả do hạn chế được quá trình mất nước nhờ tính bán thấm của màng. Nguồn gốc, phân loại cây có múi 1. Nguồn gốc và phân bố Cây ăn quả có múi có nguồn gốc từ các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á. Đường ranh giới của vùng xuất xứ cây ăn quả có múi nằm ở chân dãy núi Himalaya, phía Đông Ấn Độ qua miền Nam Trung Quốc (Ladaniya, 2008) [90].
Cây ăn quả có múi có sự phân bố rộng do khả năng dễ thích nghi với nhiều môi trường sống khác nhau, dễ lai tạo giữa các chủng để tạo ra những giống mới có khả năng nghi cao hơn (Bùi Huy Đáp, 1961) [16]. Ở bán cầu Bắc cây ăn quả có múi tập trung ở các nước Nam Á và Đông Nam Á, vùng địa Trung Hải, khu cực Bắc Mỹ và vùng Caribe. Bán cầu Nam cây có múi được trồng nhiều ở Châu Úc, Châu Phi và vùng Nam Mỹ (Ladaniya, 2008) [90]. Phân loại Cây ăn quả có múi đã được đã được các nhà thực học vật trên thế giới phân loại cách đây trên 200 năm, nhưng hệ thống phân loại cây ăn quả có múi rất phức tạp do vòng di thực diễn ra mạnh và khả năng thích ứng rộng của chúng nên ngày càng có nhiều dạng lai tự nhiên, các dạng đột biến (Đường Hồng Dật, 2003) [14], (Bùi Huy Đáp, 1961) [16].
Hệ thống phân loại đầu tiên của Linné (1753) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao của phân loại thực vật (dẫn theo Hoàng Thị Sản, 2005) [40]. Đến nay phân loại cây có múi đã được nhiều tác giả bổ sung, điều chỉnh cơ bản là thống nhất với hệ thống phân loại của Tanaka và Swingle (Ladaniya, 2008) [90]. Theo các tác giả Swingle và Reece, (1967) [105], cây cam quýt thuộc họ Rutaceae, có chung những đặc điểm về phân loại như; cây có mang tuyến dầu, bầu mọc nổi trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả gồm có 2 hay nhiều noãn bên trong. Họ Rutaceae được phân chia thành 130 giống (genus), nằm trong 7 họ phụ khác nhau, trong đó họ phụ Aurantoideae (họ phụ cam, quýt) là có ý nghĩa nhất.
Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantoideae có tộc Citrea (28 genus) và tộc phụ Citrnea (13 genus), 3 nhóm: “tiền cam quýt”, “gần cam quýt” và nhóm “cam quýt thực sự” (true citrus group) được phân nhóm từ Citreace và tộc phụ Citrnae. Sự phân loại cam quýt gặp khó khăn do nhiều yếu tố do chúng dễ lai tạo với nhau, tạo những phôi vô tính, sự mất đi của hầu hết các đặc tính gốc, sự xuất hiện của các cây trồng dạng lai bao gồm cả các biến dị tự phát. Phân loại cam quýt hiện nay chủ yếu được áp dụng theo hệ thống phân loại của Swingle và Tanaka (Wakana, 1998) [111]. Theo phân loại của Tanaka (1954) [107] cam quýt gồm có 160 đến 162 loài, ông đã quan sát từ thực tiễn sản xuất và cho rằng: Cam quýt qua trồng trọt đã có nhiều biến dị trở thành luan an 8 giống mới với tên khoa học được bắt đầu bằng tên của giống hoặc loài sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka.
Swingle và Reece, (1967) [105] đã chia cam quýt thành 16 loài, bảng phân loại của Swingle đơn giản nên được sử dụng rộng rãi hơn, tuy nhiên việc phân loại vẫn phải sử dụng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng giống và được phân loại như sau: Họ: Rutaceae Họ phụ: Aurantioideae Tộc phụ: Citrinae Chi: Citrus Chi phụ: Eucitrus Loài: Citrus grandis. Bưởi: Citrus grandis Bưởi chùm: Citrus paradisi Bưởi (C. grandis) có quả to nhất trong các loài cam quýt, có vị chua hoặc ngọt, bầu hoa có từ 13 đến 15 noãn, eo lá khá lớn, nhiều hạt. Hiện nay các giống bưởi phần lớn thuộc dạng hạt đơn phôi, được trồng chủ yếu ở các nước trong khu vực Châu Á như: Thái Lan, Philipine, Malaysia, Việt Nam và Trung Quốc.
Ở Việt Nam có rất nhiều giống bưởi ngon và nổi tiếng như: bưởi Đại Minh (Yên Bái), bưởi Diễn (Hà Nội), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Năm Roi (Vĩnh Long), bưởi Da Xanh (Bến Tre), (Vũ Công Hậu, 1996) [22]. paradisi) là dạng con lai tự nhiên của bưởi (C. grandis), (Swingle và Reece, 1967) [105], vì vậy hình thái bưởi chùm khá giống với bưởi, bưởi chùm có hình thái giống với bưởi (C. grandis) nhưng lá và eo lá nhỏ hơn, quả nhỏ, cùi mỏng, vỏ mỏng, vị chua nhẹ.
Bưởi chùm cho những giống ít hạt, phần lớn các giống bưởi chùm có hạt đa phôi nên cũng có thể sử dụng làm gốc ghép (Vũ Công Hậu, 1996) [22].Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trên thế giới và Việt Nam 1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi trên thế giới 1. Tình hình sản xuất bưởi trên thế giới Theo số liệu của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) (2018), [77] tại bảng 1.1 cho thấy, đến năm 2017 diện tích bưởi trên thế giới đạt 348.212 ha, năng suất trung bình đạt 260.277 tạ/ha, sản lượng đạt 9. Châu Á không những là cái nôi của cây có múi và cây bưởi mà còn là khu vực có diện tích, năng suất và sản lượng cao nhất trên thế giới với tổng diện tích đạt 211.297 ha, năng suất bình quân đạt 311.366 tạ/ha, sản lượng bình quân đạt 6. Khu vực có diện tích, năng suất và sản lượng đứng thứ 2 trên thế giới là Châu Mỹ với diện tích là 75.858 ha, năng suất bình quân đạt 207.150 tạ/ha, sản lượng 1.
Đứng ở vị trí thứ 3 về diện tích, năng suất và sản lượng là Châu Phi, đứng ở vị trí thứ 4 là Châu Âu và cuối cùng là Châu Đại Dương. Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở một số nước trồng bưởi trên thế giới năm 2017 Diện tích cho Năng suất Sản lượng TT Vùng, quốc gia thu hoạch (ha) (ta/ha) (tấn) 1 Thế giới 348.891 6 Châu Đại Dương 889.662 (Nguồn: FAOSTAT, 2018) [77] Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích năng suất và sản lượng, diện tích trồng bưởi của Trung Quốc năm 2017 đạt 90.917 ha chiếm 26,1% diện tích bưởi của toàn thế giới, năng suất bình quân đạt 512.441 tạ/ha, luan an 10 sản lượng 4. Tại Trung Quốc, bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan. Các giống bưởi nổi tiếng của Trung Quốc chủ yếu là: bưởi Văn Đán, Sa Điền, bưởi ngọt Quan Khê.
Đây là những giống bưởi ngon đã được Bộ nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao và cấp Huy Phần Vàng. Ở Đài Loan có giống bưởi nổi tiếng là bưởi Văn Đán, do có đặc tính tự thụ, phôi không phát triển nên không có hạt, chất lượng rất tốt được nhiều người ưa chuộng (Hoàng A Điền, 1999) [17]. Các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra các giống bưởi có ưu thế lai nổi trội có triển vọng cho chiến lược phát triển cây ăn quả có múi hàng hoá với chất lượng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới với giá thành thấp (Wang and Zheng, 1997) [115]. Đứng thứ 2 trên thế giới về sản lượng là nước Mỹ với sản lượng 728.000 tấn, trong đó chủ yếu sản phẩm là bưởi chùm.