CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ CÁC LÃNG PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Viện Năng suất Việt Nam VNPI (2014), trong nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đã xây dựng cách tiếp cận và xử lý dữ liệu tính toán năng suất ở cấp độ nền kinh tế, ngành kinh tế và doanh nghiệp. Công trình cũng đề cập tới các chỉ tiêu NSLĐ, TFP, năng suất vốn và chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, công trình đã đã đưa ra bức tranh tổng quát về tình hình năng suất lao động của Việt Nam ở cấp độ quốc gia và chi tiết theo các thành phần kinh tế.
Báo cáo đã cung cấp thông tin NSLĐ của Việt Nam, một số khu vực trên thế giới hàng năm và định vị được vị trí của Việt Nam với khu vực. Kết quả báo cáo hàng năm cho thấy Việt Nam có tốc độ tăng NSLĐ bình quân hàng năm khá cao nhưng NSLĐ lại ở mức thấp so với các quốc gia trong khu vực ASEAN và châu Á (thậm chí có giai đoạn còn thấp hơn cả Lào). Ngoài ra, báo cáo cũng nhấn mạnh năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam và so sánh với một số nước châu Á. Mặc dù cung cấp rất nhiều thông tin, báo cáo chỉ mới dừng lại ở mức mô tả mà chưa có những phân tích, đánh giá đầy đủ xem những yếu tố nào ảnh hưởng, tác động tới năng suất lao động ở Việt Nam cũng như những yếu tố nào cản trở sự gia tăng về năng suất lao động.
Mặt khác, báo cáo cũng chưa đưa ra được những giải pháp hay những kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam. Trần Thị Kim Loan, Bùi Nguyên Hùng (2009) đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố quản lý đến năng suất doanh nghiệp và mối liên hệ giữa các yếu tố này. Kết quả phân tích SEM (Structural Equation Modeling) trên mẫu khảo sát gồm 286 doanh nghiệp sản xuất ở thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy các yếu tố quản lý (cam kết của quản lý cấp cao về năng suất, đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức 6 sản xuất, hướng đến khách hàng, mối quan hệ trong doanh nghiệp) giải thích được 55% sự biến đổi trong năng suất doanh nghiệp.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cam kết của quản lý cấp cao về năng suất có tác động tích cực đến việc đào tạo nguồn nhân lực (0.835) và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp (0. Hơn nữa, kết quả cho thấy các yếu tố quản lý có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên còn một số yếu tố khác có thể tác động đến năng suất doanh nghiệp như quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hay mức độ thâm dụng lao động, thâm dụng vốn chưa được đưa vào mô hình để phân tích. Hơn nữa đối tượng nghiên cứu chỉ là một số ít (286 doanh nghiệp) ở Thành phố Hồ Chí Minh, do vậy tính phổ quát của nghiên cứu chưa cao.
Nghiên cứu của Dương Như Hùng và các cộng sự 2013: “Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tổng hợp TFP: một khảo sát trong 6 ngành công nghiệp tại TP. Bài viết đã phân tích dữ liệu của hơn 15.000 doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2000-2009 để tính toán năng suất tổng hợp (TFP) của 48 phân ngành cấp 3 thuộc sáu ngành công nghiệp thực phẩm đồ uống, dệt may, hóa chất, điện tử viễn thông, vật liệu xây dựng và cơ khí. Nghiên cứu đã cho thấy mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến môi trường cũng như qui mô của ngành có ảnh hưởng tích cực đến năng suất tổng hợp TFP, trong khi thuế và hàm lượng sử dụng vốn lại có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng năng suất TFP. Nghiên cứu mang lại nhiều hàm ý cho các nhà hoạch định chính sách, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu mới chỉ gói gọn ở 6 ngành công nghiệp tại TP.HCM chứ chưa mở rộng và bao quát cho nền kinh tế Việt Nam.
Trần Thọ Đạt (2011) trong bài báo nghiên cứu về vai trò của vốn con người trong các mô hình tăng trưởng cho thấy nếu so sánh với hệ số ước lượng của vốn vật chất và lao động, hệ số ước lượng của vốn con người đo bằng số năm đi học bình quân khá thấp. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy vai trò của vốn con người chưa được thể hiện rõ nét như vốn vật chất và lao động. Nền kinh tế ở Việt Nam còn phát triển theo chiều rộng (thâm dụng các nhân tố đầu vào) hơn là phát triển theo chiều sâu (tăng trưởng dựa trên tích lũy vốn con người và tiến bộ công 7 nghệ). Nghiên cứu của Vũ Thành Hưng (2015) phân tích một số vấn đề về năng suất lao động trong tương quan so sánh giữa Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực Đông-Nam châu Á (ASEAN) và châu Á về thực trạng, các yếu tố tác động đến năng suất lao động.
Qua phân tích cho thấy nguyên nhân chính làm cho năng suất lao động của Việt Nam thấp và đang tăng chậm lại không phải do trình độ năng lực của người lao động, chủ yếu là do hạn chế về trang bị kỹ thuật công nghệ, năng lực quản trị của các doanh nghiệp, sự “lạc hậu” về cơ cấu lao động giữa các ngành, khu vực. Đề xuất các giải pháp hướng vào đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực quản trị và chuyển dịch lao động làm việc giữa các ngành, khu vực có năng suất lao động thấp sang các ngành, khu vực có năng suất lao động cao hơn. Nghiên cứu của Lê Văn Hùng - Trưởng phòng Kinh tế vùng, Viện Kinh tế Việt Nam (2016) đã làm rõ thực trạng năng suất lao động và các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lao động ở Việt Nam. Trong giai đoạn 2006 – 2016, mặc dù chỉ chiếm 4% lực lượng lao động, song đóng góp vào tăng trưởng NSLĐ bình quân hàng năm của khu vực FDI đứng thứ hai (chiếm 29,3%), sau khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
Trên cơ sở đó lượng hoá các yếu tố tác động tới năng suất lao động, luận giải những hạn chế làm ảnh hưởng đến năng suất lao động và đưa ra các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động ở Việt Nam. Tác giả sử dụng nguồn tài liệu thứ cấp được công bố chính thức, kết quả cho thấy những nguyên nhân hạn chế chính kìm hãm tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam ở cả khía cạnh cơ cấu, mô hình phát triển và các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất. Đặng Thái Bình, Đồng Thị Thùy Linh và Nguyễn Thị Hiền (2019), báo cáo nghiên cứu “năng suất lao động của doanh nghiệp - nhìn từ cách tiếp cận mới”. Bài viết đánh giá NSLĐ của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2017 và so sánh với một số quốc gia trong khu vực.
Qua đó khẳng định, NSLĐ của khu vực doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao NSLĐ của nền kinh tế. Mặc dù nghiên cứu đã chỉ ra một cách tiếp cận rất mới về NSLĐ là sẽ chú trọng đầu tư vào nhu cầu của khách hàng nhiều hơn tuy nhiên chưa đề xuất được các giải pháp cho doanh nghiệp 8 và chỉ nói chung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhóm nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội, UNDP (2019) trong báo cáo “Năng suất và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam” đưa ra đánh giá về năng suất và khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam, cũng như các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng NSLĐ (NSLĐ) khả năng cạnh tranh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Vũ Thị Giang và Đỗ Doãn Tú (2019) tập trung phân tích vào 4 vấn đề: (1) Tiền lương và vai trò của tiền lương; (2) Tiền lương và mối quan hệ giữa lực lượng lao động với sự phát triển của doanh nghiệp; (3) Chính sách tiền lương góp phần nâng cao năng suất, tăng thu nhập cho người lao động và giảm chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp; (4) Những giải pháp chung cho cải cách chính sách tiền lương khu vực sản xuất - kinh doanh.
Các tác giả cho rằng tăng tiền lương và tăng NSLĐ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tăng NSLĐ là cơ sở để tăng tiền lương và ngược lại tăng tiền lương là một trong những biện pháp khuyến khích con người hăng say làm việc để tăng NSLĐ. Các nghiên cứu ngoài nước Almas Heshmati and Masoomeh Rashidghalam (2016) phân tích NSLĐ và các yếu tố quyết định trong sản xuất và lĩnh vực dịch vụ ở Kenya. Tác giả sử dụng cơ sở dữ liệu Khảo sát doanh nghiệp của World Bank từ năm 2013, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cường độ vốn và tiền lương ảnh hưởng đáng kể đến NSLĐ.
Tỷ lệ nữ cao hơn trong lực lượng lao động làm giảm NSLĐ. Tác giả cũng cho rằng đào tạo và giáo dục có liên quan đến NSLĐ cao hơn. Sự phụ thuộc vào các công nghệ như email và website có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến NSLĐ của các công ty. Kết quả hồi quy từ mô hình sử dụng phương pháp OLS của Papadogonas và Voulgaris (2005) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng NSLĐ ở các công ty sản xuất Hy Lạp là: tăng trưởng tài sản cố định trên mỗi lao động, tình trạng xuất 9 khẩu và hoạt động Nghiên cứu và Phát triển (R & D).
Trong ba biến số này, vốn trên mỗi lao động là yếu tố quyết định chính đến NSLĐ, hàm ý rằng các doanh nghiệp nên đầu tư vào vốn vật chất để đạt năng suất cao hơn. Mặt khác, các biến có ảnh hưởng tiêu cực đến NSLĐ là: quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng lực lượng lao động và tuổi doanh nghiệp. Tác động tiêu cực có thể được giải thích là so với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có sự cải thiện năng suất tốt hơn vì đặc điểm của họ là tính linh hoạt, về NSLĐ sử dụng giá trị sản xuất chia cho lực lượng lao động, sẽ giảm khi tăng nhân viên, điều này giải thích cho mối quan hệ tiêu cực giữa NSLĐ và tăng trưởng việc làm. Poulomi Bhattacharya and Badri Narayan Rath (2020) xem xét tác động của đổi mới đối với NSLĐ bằng cách sử dụng dữ liệu khảo sát doanh nghiệp mới nhất của Ngân hàng Thế giới và so sánh kết quả giữa khu vực sản xuất của Trung Quốc và Ấn Độ.