Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ nông nghiệp với đề tài "Nghiên cứu sử dụng chế phẩm vi khuẩn có ích Bacillus trong sản xuất lạc ở Quảng Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Vũ thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Thị Phương Nhi, bảo vệ tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Huế năm 2022, thuộc ngành Khoa học cây trồng (mã số: 9620110).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây trồng nông nghiệp có giá trị kinh tế và được gieo trồng phổ biến tại miền Trung Việt Nam. Tại tỉnh Quảng Nam, cây lạc giữ vai trò chủ lực với diện tích canh tác hàng năm đạt khoảng 10.000 ha, phân bố chủ yếu trên hai nhóm đất chính là đất cát ven biển và đất thịt pha cát. Mặc dù diện tích lớn, năng suất lạc tại địa phương vẫn ở mức thấp và thiếu ổn định do đất đai nghèo dinh dưỡng, khí hậu thời tiết bất thuận cùng với áp lực sâu bệnh hại lớn.
Việc lạm dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật hóa học nhằm duy trì năng suất đã dẫn đến nguy cơ thoái hóa đất, mất cân bằng sinh thái vùng rễ và tích lũy chất độc hại trong nông sản. Xu hướng sử dụng vi khuẩn vùng rễ kích thích sinh trưởng thực vật (PGPR), đặc biệt là chi Bacillus, đã được chứng minh có khả năng sinh tổng hợp các hợp chất hoạt tính sinh học kích thích sinh trưởng và ức chế mầm bệnh. Tuy nhiên, tại miền Trung nói chung và Quảng Nam nói riêng, các nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn Bacillus bản địa trong thâm canh cây lạc còn thiếu đồng bộ, chưa tuyển chọn được chế phẩm tối ưu và chưa xác định được quy trình kỹ thuật sử dụng phù hợp với điều kiện sinh thái đồng ruộng địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Lựa chọn được chế phẩm vi khuẩn có ích Bacillus và xác định phương pháp sử dụng chế phẩm trong sản xuất lạc ở Quảng Nam nhằm kích thích sinh trưởng, phát triển, hạn chế bệnh hại và tăng năng suất lạc.
- Mục tiêu cụ thể:
- (1) Tuyển chọn chế phẩm vi khuẩn Bacillus có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc sản xuất ở Quảng Nam.
- (2) Xác định được liều lượng và thời điểm xử lý chế phẩm Bacillus cho hiệu quả tăng năng suất, hạn chế một số bệnh hại chính cao nhất trong sản xuất lạc.
- (3) Ứng dụng chế phẩm vi khuẩn Bacillus vào mô hình sản xuất lạc tại Quảng Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Giống lạc L23.
- Sáu chế phẩm vi sinh vật ký hiệu gồm: BaD-S1A1, BaD-S1F3, BaD-S13E2, BaD-S13E3, BaD-S18F11 và BaD-S20D12. Các chế phẩm này được tạo ra từ các chủng vi khuẩn Bacillus sp. phân lập từ vùng cổ rễ cây lạc tại miền Trung Việt Nam, đã được định danh loài bằng giải trình tự gen 16S-rDNA và đăng ký trình tự trên ngân hàng gen NCBI, đạt mật độ vi khuẩn 1 × 10⁹ cfu/g.
- Chế phẩm vi sinh thương mại đối chứng: Biota Max.
- Phạm vi không gian: Các thí nghiệm thực hiện tại 3 xã đất cát (Bình Đào, Bình Phục, Bình Giang) và 1 xã đất thịt nhẹ (Bình Chánh), thuộc huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập dữ liệu, bố trí thí nghiệm và theo dõi đồng ruộng diễn ra liên tục từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2020 qua các vụ Xuân Hè 2017, Đông Xuân 2017 – 2018, Xuân Hè 2018 và Đông Xuân 2018 – 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm luận
- Nghiên cứu quốc tế: Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu về vai trò của vi khuẩn vùng rễ, cơ chế kích thích sinh trưởng và đối kháng nấm bệnh của chi Bacillus. Trong đó, Hayat và cộng sự (2010) đã chứng minh vi khuẩn có ích vùng rễ có khả năng cải thiện tốc độ nảy mầm, tỷ lệ mọc và kích thích hệ rễ phát triển nhờ khả năng tiết hormone sinh học và hòa tan dinh dưỡng. Các công trình ngoài nước cũng khẳng định Bacillus là nhóm vi khuẩn hình thành nội bào tử bền vững, tiết nhiều kháng sinh sinh học ức chế các nấm hại đất như Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Aspergillus niger và vi khuẩn Ralstonia solanacearum.
- Nghiên cứu trong nước: Tác giả điểm lại các kết quả nghiên cứu ứng dụng vi khuẩn có ích trên cây đậu đỗ tại Việt Nam, đặc biệt là công trình của Lê Như Cương và Nguyễn Quảng Quân (2016) chứng minh việc bón chế phẩm vi khuẩn Bacillus có tác dụng thúc đẩy chiều cao thân và kích thước cành cây lạc trên cả hai loại đất thịt và đất cát. Ngoài ra, các dẫn liệu công bố của chính tác giả và cộng sự (Nguyễn Xuân Vũ và cs, 2018; Nguyễn Xuân Vũ và cs, 2021) cũng ghi nhận tiềm năng kích thích sinh trưởng, tăng năng suất và giảm mức độ gây hại của bệnh đốm lá, gỉ sắt khi sử dụng vi khuẩn Bacillus trên cây lạc tại Quảng Nam.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Mặc dù tiềm năng của Bacillus đã được biết đến, phần lớn các chế phẩm sinh học thương mại chưa thích nghi tối ưu với điều kiện đất cát nghèo dinh dưỡng và khí hậu khô hạn tại miền Trung. Luận án giải quyết khoảng trống về:
- Đánh giá sàng lọc thực nghiệm 6 chế phẩm vi khuẩn Bacillus sp. có nguồn gốc bản địa tại miền Trung trên cùng một giống lạc L23.
- Định lượng liều lượng sử dụng (5, 10, 15 kg/ha) và thời điểm xử lý (khi gieo hạt so với khi làm cỏ đợt 1) để xây dựng hướng dẫn kỹ thuật bón chế phẩm sinh học rõ ràng.
- Đánh giá khả năng kiểm soát bệnh hại rễ (lở cổ rễ, héo rũ mốc đen, héo rũ mốc trắng, héo tái xanh) qua chỉ số diện tích dưới đường tiến triển bệnh (AUDPC) và lượng hóa hiệu quả kinh tế trên mô hình đồng ruộng thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên lý thuyết về vi khuẩn vùng rễ kích thích sinh trưởng thực vật (Plant Growth Promoting Rhizobacteria - PGPR). Khung phân tích tập trung vào các cơ chế sinh học: kích thích nảy mầm, thúc đẩy sinh trưởng thân lá, gia tăng mật độ nốt sần cố định đạm thông qua cộng sinh tương hỗ với vi khuẩn nốt sần, và cơ chế đối kháng sinh học (cạnh tranh không gian sống, tiết enzyme phân giải, kháng sinh) chống lại các vi sinh vật gây bệnh trên lá (Puccinia arachidis, bệnh đốm lá) và các nấm/vi khuẩn gây bệnh vùng rễ (Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Aspergillus niger, Ralstonia solanacearum).
Danh mục các chế phẩm vi khuẩn nghiên cứu
| Tên chế phẩm |
Chủng vi khuẩn |
Nguồn gốc phân lập |
Mật độ vi khuẩn (cfu/g) |
| BaD-S1A1 |
Bacillus sp. S1A1 |
Vùng cổ rễ lạc tại miền Trung |
1 × 10⁹ |
| BaD-S1F3 |
Bacillus sp. S1F3 |
Vùng cổ rễ lạc tại miền Trung |
1 × 10⁹ |
| BaD-S13E2 |
Bacillus sp. S13E2 |
Vùng cổ rễ lạc tại miền Trung |
1 × 10⁹ |
| BaD-S13E3 |
Bacillus sp. S13E3 |
Vùng cổ rễ lạc tại miền Trung |
1 × 10⁹ |
| BaD-S18F11 |
Bacillus sp. S18F11 |
Vùng cổ rễ lạc tại miền Trung |
1 × 10⁹ |
| BaD-S20D12 |
Bacillus sp. S20D12 |
Vùng cổ rễ lạc tại miền Trung |
1 × 10⁹ |
Phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa
- Nội dung 1: Đánh giá ảnh hưởng của 6 chế phẩm Bacillus đến sinh trưởng và năng suất lạc.
- Thời gian: Vụ Xuân Hè 2017 và Đông Xuân 2017 – 2018 tại xã Bình Đào và Bình Phục (đất cát).
- Bố trí thí nghiệm: Khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD), 7 công thức (6 công thức dùng 6 chế phẩm với liều 10 kg/ha trộn đất rải lên hạt khi gieo + 1 công thức đối chứng không bón chế phẩm), 3 lần nhắc lại. Diện tích ô thí nghiệm: 15 m² (3 × 5 m), diện tích ruộng thí nghiệm: 515 m² (diện tích ô đo đếm: 315 m²).
- Nội dung 2: Xác định liều lượng và thời điểm xử lý chế phẩm BaD-S20D12.
- Thời gian: Vụ Đông Xuân 2017 – 2018 và Xuân Hè 2018 tại huyện Thăng Bình.
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 2 nhân tố theo phương pháp tổ hợp (Factorial design), xếp khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), 3 lần nhắc lại, diện tích ô 15 m². Gồm 7 công thức: CT I (gieo hạt, 5 kg/ha), CT II (gieo hạt, 10 kg/ha), CT III (gieo hạt, 15 kg/ha), CT IV (làm cỏ đợt 1, 5 kg/ha), CT V (làm cỏ đợt 1, 10 kg/ha), CT VI (làm cỏ đợt 1, 15 kg/ha) và CT VII (đối chứng, 0 kg/ha).
- Nội dung 3: Ứng dụng xây dựng mô hình sản xuất lạc tại xã Bình Chánh.
- Thời gian: Vụ Đông Xuân 2018 – 2019 trên đất thịt nhẹ. Quy mô mỗi ô mô hình 1.000 m², không nhắc lại.
- Ba công thức: Đối chứng (theo tập quán người dân), CT1 - BaD (bón 10 kg/ha BaD-S20D12 khi gieo), CT2 - Biota (sử dụng chế phẩm thương mại Biota Max theo khuyến cáo).
Quy chuẩn kỹ thuật, công thức tính và chỉ tiêu theo dõi
- Quy chuẩn thực hiện: Áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-57:2011/BNNPTNT về khảo nghiệm VCU giống lạc và QCVN 01-168:2014/BNNPTNT về điều tra sinh vật hại cây họ đậu. Mật độ gieo trồng chuẩn: 33 cây/m².
- Chỉ tiêu sinh trưởng: Tỷ lệ mọc (%) tại 7, 10, 15 ngày sau gieo (NSG); chiều cao thân chính; chiều dài cành cấp 1; số lá trên thân chính; số lá xanh còn lại; số cành cấp 1, cành cấp 2; số lượng nốt sần/cây (đào 3 cây/ô tại các kỳ ra hoa, hình thành quả non và thu hoạch).
- Phương pháp theo dõi bệnh hại:
- Bệnh gỉ sắt và đốm lá: Điều tra định kỳ 14 ngày/lần, 10 lá kép ngẫu nhiên/điểm, 5 điểm chéo góc/ô. Xác định tỷ lệ bệnh (TLB %) và chỉ số bệnh (CSB %) theo thang 9 cấp.
- Bệnh vùng rễ (lở cổ rễ, héo rũ mốc đen, héo rũ mốc trắng, héo tái xanh vi khuẩn): Điều tra tỷ lệ cây chết (%) qua các giai đoạn cây con, ra hoa, làm quả và thu hoạch.
- Đánh giá động thái bệnh hại qua diện tích dưới đường tiến triển bệnh (AUDPC):
$$\text{AUDPC} = \sum_{i=1}^{n-1} \frac{(y_i + y_{i+1})(t_{i+1} - t_i)}{2}$$
(Trong đó: $n$ là số lần đo; $y_i$ là cường độ bệnh ở lần đo thứ $i$; $t_{i+1} - t_i$ là khoảng cách giữa hai lần đo).
- Chỉ tiêu năng suất: Số quả/cây, số quả chắc/cây, khối lượng 100 quả khô ($P_{100\text{ quả}}$, g), năng suất lý thuyết (NSLT, tạ/ha) và năng suất thực thu (NSTT, tạ/ha ở độ ẩm tiêu chuẩn 12%).
- Xử lý số liệu: Tính toán trung bình, vẽ biểu đồ bằng Microsoft Excel 2010; phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sai khác trung bình bằng phép thử LSD ở mức ý nghĩa $P < 0,05$ qua phần mềm chuyên dụng Statistix 10.
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần Mở đầu dài 3 trang, trình bày bối cảnh kinh tế - kỹ thuật của ngành sản xuất lạc tại Quảng Nam, thực trạng lạm dụng phân bón hóa học gây thoái hóa đất cát và đất thịt nhẹ vùng ven biển. Tác giả luận giải việc ứng dụng nhóm vi khuẩn vùng rễ Bacillus bản địa có khả năng sinh tổng hợp hoạt chất có ích là hướng đi bảo đảm tính cân bằng sinh thái. Xác lập mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng, thời gian, không gian nghiên cứu cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 có độ dài 29 trang, kết cấu thành 3 phần chính:
- Cơ sở lý luận: Trình bày giá trị dinh dưỡng, kinh tế của cây lạc; nhu cầu sinh thái học về đất, nước và ẩm độ; đặc tính vi sinh vật vùng rễ; cơ chế xúc tiến sinh trưởng cây trồng của vi khuẩn PGPR; đặc điểm phân loại học, hình thái, sinh lý của chi vi khuẩn Bacillus; định nghĩa và tiêu chuẩn của chế phẩm vi sinh nông nghiệp.
- Cơ sở thực tiễn: Cung cấp số liệu thống kê về diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới, tại Việt Nam và phân tích chi tiết thực trạng 10.000 ha lạc ở Quảng Nam; các yếu tố hạn chế năng suất và rủi ro sâu bệnh; tình hình ứng dụng chế phẩm vi sinh trong canh tác cây trồng cạn.
- Tình hình nghiên cứu liên quan: Điểm luận hệ thống các công trình quốc tế và trong nước về vi khuẩn đối kháng mầm bệnh, vi khuẩn kích thích sinh trưởng rễ trên cây họ đậu và các nghiên cứu thăm dò về chế phẩm sinh học chứa Bacillus.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 có dung lượng 12 trang, mô tả nguồn gốc 6 chủng vi khuẩn Bacillus bản địa, giống lạc L23, hóa chất và môi trường nuôi cấy. Trình bày chi tiết thiết kế thí nghiệm cho 3 nội dung nghiên cứu trên đồng ruộng (thử nghiệm tuyển chọn 6 chế phẩm, thử nghiệm liều lượng - thời điểm của BaD-S20D12, và mô hình sản xuất trình diễn). Quy định chi tiết các phương pháp lấy mẫu, công thức tính toán chỉ tiêu nông học, phân cấp bệnh hại theo tiêu chuẩn QCVN và phương pháp phân tích thống kê toán học bằng phần mềm Statistix 10.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 dài 55 trang, bao gồm 24 bảng số liệu và 19 hình vẽ, thảo luận chi tiết 3 nội dung thực nghiệm:
1. Đánh giá ảnh hưởng của các chế phẩm Bacillus đến sinh trưởng và năng suất
- Tỷ lệ nảy mầm: Trong 10 ngày đầu sau gieo (NSG), tỷ lệ mọc giữa các công thức chưa biểu hiện sai khác thống kê. Đến 15 NSG, các công thức có xử lý chế phẩm đạt tỷ lệ mọc từ 83,84% đến 88,89%, sai khác có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (79,80% ở vụ Xuân Hè 2017 và 81,82% ở vụ Đông Xuân 2017 – 2018).
- Chỉ tiêu sinh trưởng: Các chế phẩm Bacillus giúp gia tăng chiều cao cây, chiều dài cành cấp 1, số lá trên cây và số lá xanh còn lại ở giai đoạn tạo quả. Trong đó, công thức VI (chế phẩm BaD-S20D12) cho các chỉ số phát triển thân lá cao hơn đối chứng ở cả hai vụ.
- Số lượng nốt sần: Số nốt sần đạt tối đa ở giai đoạn thu hoạch. Ở vụ Xuân Hè 2017, số nốt sần ở công thức BaD-S20D12 đạt 296,78 nốt/cây, vượt trội so với đối chứng (252,33 nốt/cây, $P < 0,05$). Vụ Đông Xuân 2017 – 2018 dao động từ 318,00 đến 399,33 nốt/cây.
- Hạn chế bệnh hại trên lá: Cả 6 chế phẩm đều làm giảm tỷ lệ bệnh (TLB) và chỉ số bệnh (CSB) của bệnh gỉ sắt (Puccinia arachidis) và bệnh đốm lá so với đối chứng. Chế phẩm BaD-S20D12 thể hiện hiệu quả ức chế bệnh gỉ sắt cao nhất: ở kỳ làm quả (05/7/2017), TLB là 63,33% và CSB là 11,48% (so với đối chứng là 84,67% và 15,93%). Đối với bệnh đốm lá vụ Xuân Hè 2017, đối chứng có TLB đạt 89,33% (CSB 12,89%), trong khi công thức BaD-S20D12 có TLB là 70,00% (CSB 9,26%).
- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất:
| Công thức thí nghiệm |
Chế phẩm xử lý |
NSTT vụ Xuân Hè 2017 (tạ/ha) |
Tăng so với ĐC (%) |
NSTT vụ Đông Xuân 2017–2018 (tạ/ha) |
Tăng so với ĐC (%) |
| Công thức I |
BaD-S1A1 |
24,25 |
6,36 |
18,58 |
2,48 |
| Công thức II |
BaD-S1F3 |
25,21 |
10,57 |
20,21 |
11,47 |
| Công thức III |
BaD-S13E2 |
25,40 |
11,40 |
19,46 |
7,34 |
| Công thức IV |
BaD-S13E3 |
25,98 |
13,95 |
20,97 |
15,66 |
| Công thức V |
BaD-S18F11 |
26,25 |
15,13 |
21,24 |
17,15 |
| Công thức VI |
BaD-S20D12 |
26,97 |
18,29 |
21,96 |
21,13 |
| Công thức VII (ĐC) |
Không xử lý |
22,80 |
— |
18,13 |
— |
Chế phẩm BaD-S20D12 đạt năng suất thực thu cao nhất ở cả 2 vụ thử nghiệm ($P < 0,05$), do đó được tác giả lựa chọn để nghiên cứu phương pháp sử dụng ở nội dung tiếp theo.
2. Nghiên cứu phương pháp sử dụng chế phẩm BaD-S20D12
- Chỉ tiêu sinh trưởng: Công thức II (bón 10 kg/ha BaD-S20D12 tại thời điểm gieo hạt) cho hiệu quả cao nhất về chiều cao cây ở thời kỳ thu hoạch (đạt 46,37 cm ở vụ Đông Xuân 2017 – 2018 và 51,90 cm ở vụ Xuân Hè 2018), chiều dài cành cấp 1 (55,07 cm và 57,17 cm), và số lá trên thân chính (10,77 và 13,23 lá/cây).
- Số lượng nốt sần: Tại thời điểm thu hoạch, công thức II đạt số lượng nốt sần cao nhất: vụ Đông Xuân 2017 – 2018 đạt 342,00 nốt/cây (đối chứng đạt 260,67 nốt/cây); vụ Xuân Hè 2018 đạt 422,00 nốt/cây (đối chứng đạt 349,67 nốt/cây).
- Hiệu lực hạn chế bệnh hại vùng rễ:
| Bệnh hại vùng rễ |
Chỉ số AUDPC vụ Đông Xuân 2017 – 2018 (Công thức II) |
Chỉ số AUDPC vụ Đông Xuân 2017 – 2018 (Đối chứng) |
Chỉ số AUDPC vụ Xuân Hè 2018 (Công thức II) |
Chỉ số AUDPC vụ Xuân Hè 2018 (Đối chứng) |
| Lở cổ rễ (R. solani) |
0,00 |
17,66 |
0,00 |
0,00 |
| Héo rũ mốc trắng (S. rolfsii) |
8,38 |
83,51 |
14,29 |
68,03 |
| Héo rũ mốc đen (A. niger) |
16,32 |
91,12 |
16,30 |
74,65 |
| Héo rũ tái xanh (R. solanacearum) |
7,86 |
86,23 |
11,10 |
77,33 |
Số liệu cho thấy xử lý 10 kg/ha BaD-S20D12 khi gieo hạt làm giảm rõ rệt diện tích dưới đường tiến triển bệnh AUDPC đối với toàn bộ các nhóm bệnh hại vùng rễ so với đối chứng ($P < 0,05$).
- Năng suất thu hoạch: Công thức II đạt năng suất thực thu dẫn đầu ở cả 2 vụ thử nghiệm: vụ Đông Xuân 2017 – 2018 đạt 25,30 tạ/ha (đối chứng đạt 20,30 tạ/ha); vụ Xuân Hè 2018 đạt 23,00 tạ/ha (đối chứng đạt 19,70 tạ/ha).
3. Kết quả mô hình sản xuất tại xã Bình Chánh (Đông Xuân 2018 – 2019)
- Sinh trưởng và khả năng kháng bệnh: Mô hình sử dụng chế phẩm BaD-S20D12 (CT1 - BaD) đạt chiều cao cây 53,4 cm, cành cấp 1 đạt 51,6 cm và 169 nốt sần/cây ở giai đoạn làm quả non, vượt trội so với đối chứng (44,1 cm; 48,0 cm; 125 nốt sần/cây) và chế phẩm thương mại Biota Max (47,7 cm; 50,3 cm; 136 nốt sần/cây). Tỷ lệ cây chết do héo rũ mốc đen (0,71%), mốc trắng (0,92%) và héo tái xanh (1,30%) ở CT1 - BaD đều thấp hơn đáng kể so với đối chứng (tương ứng là 3,01%; 6,28%; 2,11%).
- Năng suất và hiệu quả kinh tế: Năng suất thực thu của CT1 - BaD tăng thêm 400 kg/ha (đạt tỷ lệ tăng 18,6%) so với công thức đối chứng nông dân và tăng 150 kg/ha (đạt tỷ lệ tăng 7,0%) so với công thức bón chế phẩm Biota Max. Tổng thu nhập ở công thức CT1 - BaD đạt 51.000 ngàn đồng/ha; thu nhập tăng thêm đạt 6.000 ngàn đồng/ha so với đối chứng và 5.000 ngàn đồng/ha so với việc sử dụng chế phẩm Biota Max.
Chương 4: Kết luận và đề nghị
Chương 4 có dung lượng 1 trang, đúc kết 3 kết luận thực nghiệm tương ứng với 3 nội dung nghiên cứu và đưa ra 3 khuyến nghị cụ thể về liều lượng sử dụng (10 kg/ha trộn đất rải lên hạt khi gieo), mở rộng địa bàn khảo nghiệm ra miền Trung và tiến hành thủ tục sản xuất thử nghiệm để thương mại hóa sản phẩm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn
- Về tuyển chọn chủng vi sinh vật: Đã phân lập, định danh và tuyển chọn được chế phẩm vi khuẩn BaD-S20D12 từ chủng vi khuẩn bản địa Bacillus sp. S20D12 (nguồn gốc vùng cổ rễ cây lạc tại miền Trung), có mật độ 1 × 10⁹ cfu/g, có hoạt tính kích thích sinh trưởng, gia tăng số lượng nốt sần, kiểm soát bệnh hại lá và bệnh rễ, làm tăng năng suất thực thu của giống lạc L23 từ 18,29% đến 21,13% so với đối chứng.
- Về quy trình kỹ thuật sử dụng: Đã xác định được phương pháp sử dụng tối ưu chế phẩm BaD-S20D12 cho giống lạc L23 là bón với liều lượng 10 kg/ha, phối trộn vào đất mịn rồi rải đều lên hạt ngay khi gieo. Biện pháp này mang lại hiệu quả vượt trội so với các liều lượng 5 kg/ha, 15 kg/ha hoặc bón thúc vào giai đoạn làm cỏ đợt 1.
- Về khả năng ứng dụng thực tế: Đã triển khai thành công mô hình thực nghiệm sản xuất giống lạc L23 tại xã Bình Chánh, huyện Thăng Bình. Kết quả chứng minh chế phẩm BaD-S20D12 làm tăng năng suất thực thu thêm 400 kg/ha (18,6%) so với canh tác thông thường và tăng 150 kg/ha (7,0%) so với chế phẩm thương mại Biota Max, mang lại thu nhập gia tăng 6.000 ngàn đồng/ha. Đây là kỹ thuật sản xuất lạc đầu tiên ứng dụng chế phẩm Bacillus bản địa tại vùng duyên hải miền Trung.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Khuyến cáo nông dân và các cơ sở sản xuất lạc trên địa bàn tỉnh Quảng Nam áp dụng bón chế phẩm vi khuẩn Bacillus BaD-S20D12 với liều lượng 10 kg/ha, trộn đất rải lên hạt khi gieo.
- Mở rộng phạm vi thử nghiệm và xây dựng mô hình sản xuất lạc có sử dụng chế phẩm BaD-S20D12 sang các tỉnh, thành phố khác thuộc khu vực miền Trung có điều kiện sinh thái tương đồng.
- Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất thử nghiệm chế phẩm BaD-S20D12 từ chủng vi khuẩn Bacillus sp. bản địa nhằm hoàn tất thủ tục đăng ký lưu hành và thương mại hóa sản phẩm phân bón vi sinh vật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Các nội dung nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng mới chỉ tiến hành tập trung trên một giống lạc duy nhất là giống L23.
- Địa bàn khảo nghiệm hạn chế trong phạm vi 4 xã (Bình Đào, Bình Phục, Bình Giang, Bình Chánh) thuộc huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, chưa bao quát toàn bộ các tiểu vùng sinh thái khác nhau của miền Trung.
- Mô hình ứng dụng sản xuất tại xã Bình Chánh được bố trí ở quy mô diện tích 1.000 m² và không bố trí công thức nhắc lại.
- Dữ liệu định danh vi khuẩn trong tóm tắt luận án dừng lại ở mức chi (Bacillus sp.) dựa trên đoạn gen 16S-rDNA, chưa công bố cụ thể tên loài phân loại học chính thức.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Triển khai thử nghiệm hiệu lực sinh học của chế phẩm BaD-S20D12 trên các giống lạc thương phẩm phổ biến khác ngoài giống L23.
- Mở rộng mô hình trình diễn ra các vùng đất cát và đất thịt pha cát tại các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi.
- Nghiên cứu công nghệ lên men công nghiệp, chất mang và thời hạn bảo quản chế phẩm để đăng ký sở hữu trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Khoa học cây trồng, Bảo vệ thực vật, Vi sinh vật học: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về khảo nghiệm vi sinh vật vùng rễ (PGPR) trên cây họ đậu; phương pháp thiết kế thí nghiệm đồng ruộng 2 nhân tố (Factorial RCBD); cách tính toán và phân tích các chỉ tiêu dịch tễ học thực vật qua đại lượng diện tích dưới đường tiến triển bệnh (AUDPC).
- Đối với giảng viên và cơ sở đào tạo nông nghiệp: Tài liệu tham khảo thực chứng về vai trò của vi khuẩn đối kháng trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và sinh lý nốt sần cố định đạm trên cây họ đậu.
- Đối với cán bộ khuyến nông và nông dân: Cung cấp định lượng kỹ thuật rõ ràng: sử dụng chế phẩm BaD-S20D12 với liều 10 kg/ha trộn đất rải khi gieo hạt, giúp giảm chi phí phòng trừ sâu bệnh và tăng hiệu quả kinh tế vụ lạc.
- Đối với các cơ quan quản lý nông nghiệp tỉnh Quảng Nam: Dữ liệu khoa học để xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái tuần hoàn, giảm phát thải hóa chất nông nghiệp trên các vùng đất cát ven biển.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong 6 chế phẩm vi khuẩn Bacillus thử nghiệm, chế phẩm nào mang lại năng suất thực thu cao nhất cho giống lạc L23?
Chế phẩm BaD-S20D12 (chủng Bacillus sp. S20D12, mật độ 1 × 10⁹ cfu/g) cho năng suất thực thu cao nhất ở cả 2 vụ thử nghiệm: đạt 26,97 tạ/ha ở vụ Xuân Hè 2017 (tăng 18,29% so với đối chứng) và 21,96 tạ/ha ở vụ Đông Xuân 2017 – 2018 (tăng 21,13% so với đối chứng), sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức $P < 0,05$.
2. Liều lượng và thời điểm xử lý chế phẩm BaD-S20D12 nào được xác định là tối ưu nhất?
Công thức II với liều lượng 10 kg/ha trộn vào đất rồi rải lên hạt ngay khi gieo hạt là công thức tối ưu. Phương pháp này giúp cây sinh trưởng chiều cao, cành cấp 1 tốt nhất, đạt số lượng nốt sần cao nhất (342,00 nốt/cây ở vụ Đông Xuân 2017 – 2018 và 422,00 nốt/cây ở vụ Xuân Hè 2018), kiểm soát bệnh hại rễ hiệu quả nhất và cho năng suất thực thu dẫn đầu (25,30 tạ/ha vụ Đông Xuân và 23,00 tạ/ha vụ Xuân Hè).
3. Việc xử lý chế phẩm BaD-S20D12 có tác động như thế nào đến các bệnh hại vùng rễ trên đồng ruộng?
Chế phẩm BaD-S20D12 ở liều lượng 10 kg/ha xử lý khi gieo làm giảm mạnh chỉ số AUDPC của cả 4 loại bệnh rễ chính so với đối chứng không xử lý:
- Bệnh lở cổ rễ (R. solani): AUDPC giảm xuống 0,00 so với đối chứng 17,66 (vụ Đông Xuân 2017 – 2018).
- Bệnh héo rũ mốc trắng (S. rolfsii): AUDPC giảm xuống 8,38 so với đối chứng 83,51 (Đông Xuân) và 14,29 so với 68,03 (Xuân Hè).
- Bệnh héo rũ mốc đen (A. niger): AUDPC giảm xuống 16,32 so với 91,12 (Đông Xuân) và 16,30 so với 74,65 (Xuân Hè).
- Bệnh héo rũ tái xanh (R. solanacearum): AUDPC giảm xuống 7,86 so với 86,23 (Đông Xuân) và 11,10 so với 77,33 (Xuân Hè).
4. Kết quả mô hình sản xuất tại xã Bình Chánh so sánh hiệu quả giữa BaD-S20D12 và chế phẩm thương mại Biota Max như thế nào?
Mô hình quy mô 1.000 m² trên đất thịt nhẹ vụ Đông Xuân 2018 – 2019 cho thấy chế phẩm bản địa BaD-S20D12 (CT1 - BaD) có chiều cao cây (53,4 cm), cành cấp 1 (51,6 cm) và nốt sần quả non (169 nốt/cây) đều cao hơn Biota Max (tương ứng là 47,7 cm; 50,3 cm; 136 nốt/cây). Năng suất của CT1 - BaD tăng thêm 150 kg/ha (7,0%) và thu nhập tăng thêm 5.000 ngàn đồng/ha so với việc sử dụng chế phẩm thương mại Biota Max.
5. Nguồn gốc phân lập và mật độ tế bào của các chế phẩm vi khuẩn Bacillus trong nghiên cứu là gì?
Tất cả 6 chế phẩm vi khuẩn (Bacillus sp. S1A1, S1F3, S13E2, S13E3, S18F11, S20D12) đều có nguồn gốc phân lập từ vùng cổ rễ cây lạc tại miền Trung Việt Nam bởi nhóm nghiên cứu, được định danh qua trình tự gen 16S-rDNA, đăng ký ngân hàng gen NCBI và được bào chế đạt mật độ tế bào tiêu chuẩn là 1 × 10⁹ cfu/g.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Vũ đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc tuyển chọn thành công chế phẩm sinh học BaD-S20D12 từ chủng vi khuẩn Bacillus sp. bản địa vùng rễ lạc tại miền Trung. Kết quả nghiên cứu xác lập liều lượng tối ưu 10 kg/ha bón trộn đất rải lên hạt khi gieo, giúp tăng tỷ lệ nảy mầm, thúc đẩy sinh trưởng thân lá, gia tăng mật độ nốt sần, kiểm soát hiệu quả các bệnh hại lá và bệnh rễ nguy hiểm, đồng thời tăng năng suất hạt thực thu từ 18,29% đến 21,13%. Mô hình ứng dụng tại Quảng Nam đã chứng minh tính ưu việt về mặt kỹ thuật và hiệu quả kinh tế so với tập quán nông hộ cũng như chế phẩm thương mại đối chứng, tạo lập căn cứ khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc ứng dụng vi khuẩn có ích trong sản xuất lạc bền vững.