Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến đề tài 1. Các công trình khoa học tiêu biểu có liên quan đến vị trí, vai trò và yêu cầu thực thi pháp luật bảo vệ chủ quyền, an ninh trên biển, đảo của Tổ quốc Việt Nam Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Chiến lược và Phát triển (2003), “Chiến lược bảo vệ chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo Việt Nam đến năm 2020” [10], trên cơ sở đánh giá kinh nghiệm quản lý, bảo vệ chủ quyền của những quốc gia mạnh về biển như: Mỹ, Canada, Ôxtr âylia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc…, xuất phát từ thực trạng các văn bản pháp luật của Việt Nam về biển, cũng như việc vận dụng Luật Biển quốc tế vào công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, các tác giả đã chỉ rõ: Một trong những yêu cầu cấp thiết nhất đối với Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế biển và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc là phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước về biển. Đánh giá về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về biển, các tác giả khẳng định: “Về cơ bản, trên cơ sở phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, Công ước về Luật Biển 1982, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển của Việt Nam bước đầu đã tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho việc tăng cường quản lý nhà nước trên biển.
Tuy nhiên, xét tổng thể hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển của nước ta còn nhiều bất cập như thiếu tính đồng bộ, việc hệ thống hóa, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chậm, chưa theo kịp tình hình và chưa được tiến hành một cách thường xuyên” [10, tr. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), “Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” [5], đã đề cập đến vị trí, vai trò của biển, đảo 10 đối với phát triền kinh tế Việt Nam. Các tác giả đã đi sâu phân tích và luận giải lý do phải kết hợp phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh trên biển, đảo Việt Nam. Đồng thời nêu lên định hướng và giải pháp kết hợp phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng, an ninh trên biển, đảo Việt Nam đạt hiệu quả thiết thực.
Nguyễn Tấn Diễn (2009), “Một số biện pháp tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình mới” [68] tiếp tục khẳng định tầm quan trọng trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật của Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, hoạt động giáo dục pháp luật trong tình hình mới cần có những biện pháp phù hợp mới đem lại kết quả như mong muốn. Trong đó chú ý đến sự phù hợp của đối tượng để nhằm mục đích nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân. Đồng thời, công trình khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác phổ biến kiến thức pháp luật những năm gần đây đã thu được những kết quả trong việc giúp cán bộ, nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Công tác phổ biến kiến thức pháp luật được thực hiện dưới nhiều hình thức và phát huy được hiệu quả của nó như: Trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật, hòa giải cơ sở. Thông qua những hoạt động thực tiễn pháp lý đó, cơ quan chuyên môn đã có điều kiện phổ biến trực tiếp cho các đối tượng cần trợ giúp pháp lý về kiến thức pháp luật. Nguyễn Ngọc Trường (2014), “Về vấn đề biển Đông” [172], đã phân tích làm rõ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kỳ lịch sử, từ thời kỳ nhà nước phong kiến Việt Nam, thời Pháp thuộc, thời chính quyền Bảo Đại và chính quyền Sài Gòn. Đặc biệt, tác giả đã khẳng định Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực thi chủ quyền biển đảo đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1975 với nhiều văn bản luật quan trọng và thực tế quản lý hành chính trên thực địa của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm căn cứ.
Tác giả cũng dành phần quan trọng để phân tích tham vọng của các nước lớn (Trung Quốc, 11 Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ) và ASEAN đối với Biển Đông. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra nhiều dẫn chứng và khẳng định: “Một vấn đề mang tính quy luật của chính sách Trung Quốc đối với Biển Đông, đó là, mỗi khi xuất hiện khoảng trống quyền lực nước lớn tại Đông Nam Á/Biển Đông, Trung Quốc liền nắm lấy cơ hội để mở rộng sự hiện diện của họ” [172, tr. Tác giả khẳng định trong tất cả các tranh chấp chủ quyền biển, đảo với Việt Nam, không một quốc gia nào có một quá trình lịch sử và xác lập chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lâu dài như Việt Nam. Do đó, cần tiếp tục phát huy luật pháp quốc tế, thế chính nghĩa của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, vị trí địa - chiến lược của Việt Nam bên bờ Biển Đông, qua đó tối đa hóa lợi ích quốc gia của nước ta trong vấn đề Biển Đông.
Nguyễn Viết Thảo (2017), “Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong bối cảnh mới” [151] đã đi sâu phân tích và đưa ra nhận định về bối cảnh quốc tế tiếp tục vận động phức tạp, phân tích thực trạng, tình hình diễn biến trên Biển Đông trong thời gian gần đây, nhất là tình hình quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc trên biển và nêu ra những đòi hỏi chiến lược cho Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên một số chính sách áp dụng để bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong bối cảnh mới. Lý Nam Hải (2020), “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở Việt Nam” [88], trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển trong thời gian qua, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển ở nước ta hiện nay: (1) Xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng xác định công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành và của toàn xã hội. (2) Đổi mới nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho ngư dân.
(3) Xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật vừa hồng, vừa chuyên. (4) Khuyến khích 12 và thúc đẩy các thôn, làng ven biển tích cực xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các hương ước mới, trong đó cụ thể hóa để thực hiện các quy định pháp luật liên quan trực tiếp đế đời sống hằng ngày của người dân trong thôn, làng, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho ngư dân biển. (5) Song song với việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân cần có các chương trình phát triển kinh tế vùng biển, tạo sinh kế bền vững cho ngư dân nhưng cũng cần có các hình thức xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật của ngư dân, đặc biệt là các họat động khai thác đánh bắt của ngư dân trên biển. (6) Cần quan tâm hơn nữa việc huy động các nguồn kinh phí phục vụ cho phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân từ các nguồn ngân sách nhà nước, nguồn xã hội hóa huy động tức các tổ chức từ thiện, các doanh nghiệp và các đoàn thể xã hội, xây dựng được nguồn kinh phí có tính chất dài hơi, liên tục, đáp ứng được các chương trình, kế hoạch đề ra [88, tr.
Nguyễn Mạnh Cường, Lương Thị Kim Dung (2020), “Hoàn thiện chính sách, luật pháp bảo đảm an ninh môi trường biển Việt Nam” [64], đã nhận diện các hiểm họa an ninh môi trường biển Việt Nam, phân tích cơ chế, chính sách, pháp luật Việt Nam về an ninh môi trường biển và đề xuất một số giải pháp hữu hiệu cho tăng cường bảo đảm an ninh môi trường biển Việt Nam: (1) Hoàn thiện chính sách Chiến lược quốc gia về an ninh môi trường biển Việt Nam. (2) Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm an ninh môi trường biển. (3) Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo đảm an ninh môi trường biển. (4) Phát triển bền vững các hoạt động du lịch, kinh tế ven bờ.
Nguyễn Quốc Hương (2021), “Kinh nghiệm huy động nhận lực, tàu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo của thành phố Đà Nẵng” [100], từ diễn tập khu vực phòng thủ: Chuyển lực lượng vũ trang vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu; chuyển địa phương vào trạng thái quốc phòng; tổ chức thực hành tác chiến phòng thủ, bảo vệ địa bàn Thành phố, tác giả đã khái quát rút ra những kinh nghiệm: (1) Tăng cường công tác lãnh đạo, 13 chỉ đạo, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, ban, ngành, đoàn thể và nhân dân về công tác huy động nhân lực, tàu thuyền và phương tiện dân sự tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền các vùng biển của Tổ quốc. (2) Nâng cao chất lượng công tác xây dựng kế hoạch, hướng dẫn thực hiện; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị và địa phương. (3) Thực hiện tốt công tác tuyển chọn, đăng ký nguồn, tiếp nhận, bàn giao nhân lực, tàu thuyền, phương tiện dân sự theo quy định; nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập lực lượng được huy động. (4) Thực hiện tốt công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính cho từng khâu, từng bước trong thực hiện nhiệm vụ.
Song An - Việt Hà (2021), “Hoạt động thực thi pháp luật trên biển: Quy định luật pháp quốc tế và pháp luật các nước tranh chấp ở Biển Đông” [1], các tác giá đã nghiên cứu vấn đề hoạt động của lực lượng thực thi pháp luật trên biển từ góc độ pháp lý; xem xét các quy định của luật pháp quốc tế về hoạt động của lực lượng thực thi pháp luật trên biển; tìm hiểu quy định nội luật của các nước ASEAN tranh chấp Biển Đông; phân tích nội dung Luật Hải cảnh Trung Quốc; đánh giá tính tương thích của các văn bản nội luật với luật pháp quốc tế và hệ lụy đối với khu vực và cộng đồng quốc tế.