Nâng Cao Năng Lực Tham Gia Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu Đối Với Mặt Hàng Giày Dép Việt Nam

Nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cho ngành giày dép Việt Nam, thúc đẩy phát triển bền vững và cạnh tranh quốc tế.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kinh doanh quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

98
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GIÀY DÉP

1.1. Tổng quan về chuỗi giá trị toàn cầu

1.2. Phân loại chuỗi giá trị toàn cầu

1.3. Tổng quan về năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

1.4. Năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

1.5. Mô hình đánh giá năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

1.6. Tổng quan về chuỗi giá trị toàn cầu của mặt hàng giày dép

1.7. Tổng quan về mặt hàng giày dép

1.8. Đặc điểm của chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng giày dép

1.9. Những yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng giày dép

1.10. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GIÀY DÉP VIỆT NAM

2.1. Tình hình sản xuất và xuất khẩu giày dép của Việt Nam những năm gần đây

2.2. Thực trạng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với mặt hàng giày dép Việt Nam

2.3. Quy mô hiện tại đối với mặt hàng giày dép Việt Nam

2.4. Vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng giày dép

2.5. Đánh giá về năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với mặt hàng giày dép Việt Nam

2.6. Mô hình SWOT

2.7. Mô hình VRIO

2.8. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GIÀY DÉP VIỆT NAM

3.1. Định hướng nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với mặt hàng giày dép của Việt Nam

3.2. Dự báo xu hướng phát triển của thị trường giày dép Việt Nam và thế giới những năm tới

3.3. Phương hướng và mục tiêu phát triển mặt hàng giày dép Việt Nam

3.4. Giải pháp nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với mặt hàng giày dép Việt Nam

3.5. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực

3.6. Giải pháp thu hút nguồn vốn đầu tư để phát triển các hoạt động trong chuỗi giá trị

3.7. Giải pháp tăng cường sự kết nối các khâu trong chuỗi giá trị toàn cầu

3.8. Tận dụng tiềm năng từ thị trường nội địa

3.9. Thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ

3.10. Giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống

3.11. Giải pháp nâng cao năng lực tạo sức cạnh tranh

3.12. Một số kiến nghị nhằm nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với mặt hàng giày dép Việt Nam

3.13. Kiến nghị đối với chính phủ

3.14. Kiến nghị đối với Hiệp hội da giày Việt Nam

3.15. Giải pháp đối với doanh nghiệp kinh doanh và sản xuất giày dép

3.16. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU/SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cho giày dép Việt Nam

Năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) là yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp giày dép Việt Nam nâng cao vị thế cạnh tranh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tham gia vào GVC không chỉ giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường mới mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm. Ngành giày dép Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc tham gia GVC, tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua.

1.1. Khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu và vai trò của nó

Chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) là một mạng lưới các hoạt động sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm từ nguyên liệu thô đến tay người tiêu dùng. GVC giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao giá trị sản phẩm thông qua việc kết nối các nhà sản xuất, nhà cung cấp và người tiêu dùng trên toàn cầu.

1.2. Tình hình hiện tại của ngành giày dép Việt Nam trong GVC

Ngành giày dép Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong việc tham gia GVC, với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề như chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh cần được cải thiện để nâng cao vị thế trong GVC.

II. Những thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho giày dép Việt Nam

Mặc dù ngành giày dép Việt Nam có nhiều tiềm năng, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Các yếu tố như công nghệ sản xuất lạc hậu, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu đang cản trở sự phát triển bền vững của ngành.

2.1. Công nghệ sản xuất và đổi mới sáng tạo

Công nghệ sản xuất hiện tại của ngành giày dép Việt Nam còn lạc hậu so với các nước phát triển. Việc đầu tư vào công nghệ mới và đổi mới sáng tạo là cần thiết để nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm.

2.2. Nguồn nhân lực và đào tạo

Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những thách thức lớn. Cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu để nâng cao kỹ năng cho người lao động trong ngành giày dép.

III. Phương pháp nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cho giày dép Việt Nam

Để nâng cao năng lực tham gia GVC, các doanh nghiệp giày dép Việt Nam cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc cải tiến quy trình sản xuất đến việc tăng cường hợp tác quốc tế, các giải pháp này sẽ giúp ngành giày dép phát triển bền vững.

3.1. Đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại

Đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp cần tìm kiếm các giải pháp công nghệ tiên tiến để cải thiện quy trình sản xuất.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Hợp tác với các đối tác quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp giày dép Việt Nam tiếp cận công nghệ mới và mở rộng thị trường. Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do cũng là một cách hiệu quả để nâng cao năng lực cạnh tranh.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong ngành giày dép

Nghiên cứu về năng lực tham gia GVC trong ngành giày dép Việt Nam đã chỉ ra nhiều ứng dụng thực tiễn. Các doanh nghiệp đã áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và đạt được những kết quả tích cực trong xuất khẩu và phát triển bền vững.

4.1. Kết quả từ việc áp dụng công nghệ mới

Việc áp dụng công nghệ mới đã giúp nhiều doanh nghiệp giày dép nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Điều này không chỉ giúp tăng trưởng doanh thu mà còn cải thiện hình ảnh thương hiệu trên thị trường quốc tế.

4.2. Tác động của hợp tác quốc tế đến ngành giày dép

Hợp tác quốc tế đã mở ra nhiều cơ hội cho ngành giày dép Việt Nam. Các doanh nghiệp đã có thể tiếp cận thị trường mới và gia tăng kim ngạch xuất khẩu thông qua việc tham gia vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

V. Kết luận và tương lai của ngành giày dép Việt Nam trong GVC

Ngành giày dép Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong việc tham gia GVC. Để phát triển bền vững, cần có các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và sự nỗ lực từ các doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh.

5.1. Tương lai của ngành giày dép trong GVC

Với những nỗ lực cải tiến và đổi mới, ngành giày dép Việt Nam có thể nâng cao vị thế trong GVC. Sự phát triển bền vững sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các xu hướng mới trong sản xuất và tiêu dùng.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ từ chính phủ

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể để giúp ngành giày dép phát triển. Các chương trình đào tạo, hỗ trợ tài chính và khuyến khích đầu tư vào công nghệ mới sẽ là những yếu tố quan trọng.

10/07/2025
Nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đối với mặt hàng giày dép việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI MẶT HÀNG GIÀY DÉP 1. Tổng quan về chuỗi giá trị toàn cầu 1. Khái niệm Chuỗi giá trị Thuật ngữ “chuỗi giá trị” được Micheal Porter giới thiệu và ra mắt lần đầu tiên vào năm 1985 trong cuốn sách bán chạy nhất của ông là “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”. Micheal Porter cho rằng: “chuỗi giá trị bao gồm tất cả những hoạt động cần thiết có thể làm gia tăng giá trị của một sản phẩm từ khâu cung cấp nguyên liệu để sản xuất, chế biến, lưu kho hàng hóa, marketing cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng và cung cấp dịch vụ hậu mãi sau sử dụng”.

Mỗi sản phẩm khi tham gia vào các hoạt động trong chuỗi sẽ thu được một giá trị nhất định nào đó. Chuỗi giá trị có thể được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp: chuỗi giá trị bao gồm một loạt các hoạt động của một doanh nghiệp (DN) cần thực hiện để sản xuất ra một sản phẩm hay dịch vụ nhất định nào đó và mang sản phẩm, dịch vụ này tới khách hàng. Theo nghĩa rộng: chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện, đó có thể là một DN hay một quốc gia đứng trên cương vị là nhân tố về mặt sản xuất sơ cấp, chế biến, thương nhân hay là người cung cấp dịch vụ v.v…để biến nguyên liệu thô thành thành phẩm được tiêu thụ bởi người tiêu dùng cuối cùng.

Các hoạt động trong chuỗi có thể bao gồm những công đoạn như: nghiên cứu thị trường, sáng tạo sản phẩm, thiết kế, phát triển hệ thống cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất, điều hành kho vận (logistics), phân phối, tiêu thụ và không thể thiếu dịch vụ chăm sóc khách hàng. Tất cả các hoạt động này kết nối lại với nhau theo một trình tự các mối liên kết ngang - dọc, ngược - xuôi tạo thành chuỗi nối kết nhà sản xuất với 7 người tiêu dùng. Chúng tương tác chặt chẽ và bổ sung giá trị cho nhau góp phần làm nâng cao giá trị của sản phẩm cuối cùng. Porter đã nhóm các hoạt động này thành 9 mắt xích cơ bản tạo nên giá trị của hoạt động kinh doanh, trong đó có 5 mắt xích chính và 4 mắt xích phụ (Hình 1.

Có thể nói rằng, chuỗi giá trị chính là đặc trưng cơ bản nhất của thương mại quốc tế ngày nay. Mô hình chuỗi giá trị của Porter Nguồn: Micheal Porter (1985) Ở trong mô hình trên, có thể thấy rõ ràng các hoạt động được chia thành 2 nhóm: hoạt động chính và các hoạt động phụ trợ. 5 hoạt động chính là những hoạt động đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng và giá trị tổng thể cho doanh nghiệp. Bao gồm: Hậu cần đầu vào.

Là các hoạt động liên quan tới tiếp nhận, vận chuyển, lưu kho, phân phối tất cả những nguồn lực phục vụ cho quá trình sản xuất diễn ra trong nội bộ đối tượng khảo sát. Tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình chuyển đổi các nguyên liệu sản xuất đầu vào để tạo ra thành phẩm. Đây là nhóm hoạt động vô cùng phong phú và đa dạng, phụ thuộc nhiều vào loại hình và đặc thù sản xuất kinh doanh của mỗi ngành từ những khâu đầu tiên khi hình thành ý tưởng, sản xuất thử, thử nghiệm, sản xuất đại trà, kiểm tra chất lượng,. cho đến dịch vụ bảo hành sau kinh doanh.

Hậu cần đầu ra. Toàn bộ hoạt động để đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng một cách kịp thời, chính xác với chi phí thấp nhất. Ví dụ như: thu gom, vận chuyển, xử lý đơn hàng. 8 Marketing và bán hàng.

“Đòn bẩy” kinh doanh trong thương mại. Là phương tiện hữu hiệu nhất để tiếp cận các đối tượng khách hàng và khách hàng tiềm năng. Marketing và bán hàng tập trung vào các công đoạn của tổ hợp marketing - mix như: nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, hoạch định chính sách giá cả, thiết lập kênh phân phối, quảng cáo, PR (quan hệ công chúng) và hỗ trợ xúc tiến bán hàng. Bao gồm các hoạt động như dịch vụ hỗ trợ, bảo hành, sửa chữa,… giúp đẩy mạnh khả năng tiêu thụ sản phẩm và cũng là hoạt động trung tâm của việc tạo ra lợi nhuận.

Các hoạt động này vô cùng đa dạng và phong phú. Song song với 5 mắt xích chủ yếu được nêu ở trên, những hoạt động phụ trợ cũng là cánh tay phải không thể thiếu. Cấu trúc hạ tầng của doanh nghiệp. Là nền móng xây dựng và có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các nhóm hoạt động khác trong chuỗi giá trị.

Cơ sở hạ tầng hiểu đơn giản là việc quản lý, hoạch định chiến lược và quản trị doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực. Liên quan đến vấn đề con người như việc tuyển chọn nhân sự, đào tạo, nâng cao tay nghề, chính sách lương thưởng, quyền lợi theo chế độ. Và thực tế chỉ ra rằng, một doanh nghiệp tạo được sự khác biệt trên thị trường và chiếm lợi thế cạnh tranh lâu dài thường là những doanh nghiệp đặt mức quan tâm đến vấn đề quản trị nguồn nhân lực lên hàng đầu.

Phát triển công nghệ. Cần chú ý và để tâm nhất đến 2 yếu tố: nghiên cứu và phát triển (R&D), trình độ công nghệ sản xuất. 2 yếu tố này sẽ giúp cho doanh nghiệp kiến tạo được giá trị mới và kiến thức mới. Phát triển công nghệ là một trong những hoạt động then chốt đã giúp cho các nước phát triển chiếm vị thế và xây dựng được chỗ đứng kiên cố trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Các hoạt động nhằm bảo đảm nguồn nguyên vật liệu xuyên suốt trong quá trình kinh doanh liên quan mật thiết đến chi phí sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành sản phẩm. Chuỗi giá trị toàn cầu Thế giới không ngừng hội nhập và phát triển, toàn cầu hóa kéo theo tự do hóa thương mại, tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế là những xu thế tất yếu của thời 9 đại. Các dòng chảy sản xuất kinh doanh có thể tự do chu chuyển, hoạt động xuyên suốt qua các trung tâm kinh doanh trên thế giới, tạo thành chuỗi liên kết với mục đích cuối cùng là tạo được giá trị gia tăng tối ưu nhất cho các chủ thể kinh tế, các quốc gia và doanh nghiệp khắp toàn cầu. Trong quá trình đó, các chuỗi giá trị không chỉ hoạt động bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà từng bước phát triển, được mở rộng ra khỏi biên giới quốc gia, xâm nhập vào các quốc gia khác trên thế giới, tạo ra chuỗi giá trị mới dài hơn và rộng lớn hơn với quy mô toàn cầu dưới sự tham gia của rất nhiều chủ thể kinh tế.

Do đó, khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu đã được hình thành. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về chuỗi giá trị toàn cầu trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, định nghĩa về chuỗi giá trị toàn cầu được nhắc đến nhiều nhất trong lĩnh vực kinh tế. Hiểu một cách đơn giản thì chuỗi giá trị toàn cầu chính là một dây chuyền sản xuất - kinh doanh mang tính chất toàn cầu hóa, trong đó những doanh nghiệp tại những quốc gia khác nhau tham gia vào chuỗi giá trị bằng những công đoạn khác nhau như R&D, cung cấp nguyên liệu đầu vào, thiết kế sản phẩm, sản xuất, phân phối v.

với mục đích tạo được giá trị hiệu quả nhất cho người tiêu dùng. Mô hình chuỗi giá trị toàn cầu Nguồn: Micheal Porter (1985) Mỗi DN, mỗi quốc gia đều có những lợi thế cạnh tranh đặc thù. Mục tiêu chiến lược lâu dài là cần nhận ra lợi thế so sánh của chính mình, tham gia vào chuỗi, nâng cao vị thế của mình trong chuỗi và trở thành chủ thể ở những khâu có giá trị gia tăng cao nhất trong quá trình nghiên cứu GVC. Đối với các doanh nghiệp tại các nước 10 đang phát triển như Việt Nam, trở thành bộ phận của GVC là một yếu tố tiên quyết để tiếp nhận công nghệ cao và phát triển kinh tế cho nước nhà.

Đặc điểm Đầu tiên, GVC là đại diện sáng giá của mô hình kinh doanh toàn cầu trong bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nào với sự tham gia của nhiều quốc gia, nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều loại hình sở hữu và ở bất kỳ địa điểm nào trên thế giới. Các cấu phần sản xuất trong GVC được hợp nhất bằng sự liên kết các hoạt động một cách xuyên suốt để đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Thứ hai, chuỗi giá trị toàn cầu là sự liên kết cơ bản theo chiều dọc, bao gồm những hoạt động nối tiếp nhau từ thượng nguồn (lên ý tưởng, thiết kế, các hoạt động thăm dò, khai thác) đến hạ nguồn (hoàn thiện sản phẩm, phân phối, marketing, R&D) trong một không gian và thời gian xác định. Mỗi hoạt động cấu thành một mắt xích trong chuỗi.

Nhóm mắt xích này phải tạo ra được những giá trị có tính thừa kế lẫn nhau, bổ sung cho nhau để tạo nên giá trị cuối cùng hiệu quả nhất. Tuy nhiên, năng lực tạo giá trị của các mắt xích trong chuỗi là không đồng nhất, được tác giả mô phỏng dựa trên mô hình “Đường cong nụ cười”. Mô hình đường cong nụ cười Nguồn: Stan Shih, 1992 Khi tham gia mạng lưới sản xuất quốc tế, các nền kinh tế có thể chuyên môn hóa các nhiệm vụ cụ thể của chuỗi giá trị mà không nhất thiết phải xây dựng toàn bộ chuỗi 11 giá trị. Nhờ đó, đem lại cơ hội phát triển rất lớn, nhất là đối với các nước đang phát triển thông qua mạng lưới quốc tế.

Thứ ba, GVC gắn chặt với mục đích cuối cùng là giảm chi phí và nâng cao hiệu quả toàn chuỗi. Trong đó, các công ty đa quốc gia (MNC) nắm giữ vai trò then chốt. Để giảm chi phí và nâng cao hiệu quả của GVC, các MNC sẽ chia nhỏ các phân đoạn sản xuất của họ và sẽ chuyển giao những công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang những quốc gia, vùng lãnh thổ có lợi thế so sánh cao hơn thông qua hoạt động thuê ngoài hoặc liên doanh hay đầu tư 100% vốn nước ngoài. Nhờ đó, các nước kém và đang phát triển sẽ có cơ hội được tham gia vào những công đoạn trong GVC, tuy nhiên lợi ích và giá trị thu về được của những quốc gia này sẽ không cao.

Đổi lại, chính mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị toàn cầu đã đáp ứng tham vọng của các tập đoàn đa quốc gia do khai thác được các lợi thế so sánh của các nhà sản xuất sở tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Nâng Cao Năng Lực Tham Gia Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu Cho Giày Dép Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà ngành giày dép Việt Nam có thể cải thiện vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và áp dụng công nghệ mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về các chiến lược và xu hướng hiện tại, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn kinh doanh của mình.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Gia công quốc tế và thực trạng hoạt động gia công xuất khẩu giày dép của các doanh nghiệp Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình gia công xuất khẩu giày dép, giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong ngành. Những thông tin này sẽ hỗ trợ bạn trong việc phát triển chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa.