CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI NIỆM NĂNG LỰC TÀI CHÍNH 1.1 Năng lực tài chính 1.1 Khái niệm năng lực tài chính Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanh nghiệp. Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản và là một đầu vào của doanh nghiệp. Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốn nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản phẩm. Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác.
Như vậy, năng lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh.2 Năng lực tài chính ngân hàng thương mại Thời gian qua, thế giới đã chứng kiến nhiều lần chao đảo bởi một số vụ bê bối tài chính của các ngân hàng lớn như Citi Bank , Lehman Brothers của Mỹ, NAB của Australia. Nguyên nhân chính đều xuất phát từ năng lực tài chính của các ngân hàng. Điều đó cũng phần nào nói lên được rằng: Khi các ngân hàng có năng ực l tài chính vững mạnh mới đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định, từ đó nền kinh tế cũng sẽ tăng trưởng vững chắc. Do vậy, trong bối cảnh diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính toàn cầu và hệ lụy lâu dài của chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng toàn thế giới thì năng lực tài chính của mỗi ngân hàng được xem là tấm đệm có thể chống đỡ trước những cú sốc của nền kinh tế mà không cần có sự hỗ trợ của chính phủ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Có thể nói yếu tố tài chính quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là vốn. Bao gồm: Vốn pháp định và Quỹ dự trữ. Vốn ngân hàng là điều kiện cơ bản đảm bảo tiền gởi của khách hàng, một khi gặp rủi ro trong kinh doanh (như nợ khó đòi, lỗ trong nghiệp vụ chứng khoán thì vốn của ngân hàng là khoản bù đắp rủi ro đó và tạo khả năng thanh toán các khoản nợ của khách hàng). Bên cạnh số lượng vốn thì chất lượng là điều mà các nhà điều hành ngân hàng cần phải quan tâm.
Chất lượng vốn tốt hơn đồng nghĩa với việc khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, điều này giúp cho ngân hàng “khỏe” hơn, do đó có khả năng chống đỡ tốt hơn trong thời kì khó khăn. Mặc dù vốn là yếu tố cơ bản để đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng, nhưng ngoài yếu tố vốn ta cần phải tính đến hàng loạt các yếu tố khác như: thanh khoản của ngân hàng, cấu trúc rủi ro tích sản, tính chất biến động của các loại tiền gởi và chất lượng quản lý ngân hàng. Để có thể duy trì chất lượng của nguồn vốn về dài hạn đòi hỏi cần phải có những phương pháp giám sát an toàn vĩ mô hệ thống để các ngân hàng áp dụng hay còn gọi là hạn chế rủi ro hệ thống. Nội dung cơ bản của phương pháp này bao gồm giảm mức độ khuyếch đại của rủi ro hệ thống và mối quan hệ phụ thuộc và những rủi ro chung của ngân hàng (đặc biệt là những ngân hàng có vai trò quan trọng đối với hệ thống).
Cuối cùng là duy trì các tiêu chuẩn về thanh khoản giúp ngân hàng có khả năng chống đỡ ngắn hạn tốt hơn đối với những căng thẳng thanh khoản. Điều này yêu cầu các ngân hàng phải nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao và có chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu chi trả trong những trường hợp khó khăn. Theo quan điểm của Mỹ và một số nước phương Tây, muốn đánh giá năng lực tài chính một ngân hàng người ta sử dụng 5 chỉ tiêu: • Tỷ lệ vốn: Các chỉ số về vốn (VSCH/Tổng TS, VCSH/Tài sản có …) • Chất lượng tài sản có • Chất lượng quản lý • Các tỷ số về thu nhập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 • Khả năng thanh khoản Tóm lại, năng lực tài chính ngân hàng trong bối cảnh hiện nay có thể được hiểu là khả năng duy trì được hoạt động bình thường và phát triển một cách ổn định, bền vững trong mọi điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới. NHTM có khả năng cung cấp tín dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế.
NHTM luôn đáp ứng đầy đủ yêu cầu khách hàng về vốn và các dịch vụ ngân hàng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới. NHTM còn phải bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của mình một cách an toàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản. Năng lực tài chính của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng. Năng lực tài chính của một NHTM càng được đảm bảo thì mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng càng thấp và năng lực cạnh tranh của NHTM trên thị trường càng cao.
Do vậy, n ăng lực tài chính của NHTM phải không ngừng được nâng cao và hoàn thiện theo chuẩn mực quốc tế là điều kiện không thể thiếu được của bất cứ một NHTM nào.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng thương mại Mặc dù vốn là yếu tố cơ bản để đánh giá về mặt tài chính của ngân hàng, nhưng ngoài yếu tố vốn ta cần phải tính đến hàng loạt các yếu tố khác như: thanh khoản của ngân hàng, chất lượng tài sản (chất lượng tín dụng và các khoản đầu tư), khả năng sinh lời (các tỷ số về thu nhập) và chất lượn g quản lý ngân hàng. Các cơ quan ngân hàng căn cứ vào các điều trên để chấm điểm và phân loại ngân hàng tốt, khá, yếu. Năng lực tài chính được đánh giá dựa trên các yếu tố định lượng và các yếu tố định tính. + Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao gồm: quy mô vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời… + Các yếu tố định tính thể hiện khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính được thể hiện qua trình độ tổ chức, trình độ quản lý, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Các nhân tố quyết định năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, bao gồm: 1.1 Quy mô vốn của NHTM Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
+ Quy mô Vốn tự có: Vốn tự có được hình thành từ nguồn: Vốn điều lệ (Vốn tự có cấp 1 và vốn tự có cấp 2) – Các quỹ dự trữ bổ sung các tài sản nợ khác như lợi nhuận chưa chia, giá trị tăng thêm do đánh giá lại tài sản, trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi… Ngoài các quỹ trên, còn có phần lợi nhuận được phân bổ hay các quỹ nghiệp vụ khác như: quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ phúc lợi, khen thưởng, khấu hao… Vốn tự có có chức năng bảo vệ NHTM, giúp NHTM chống lại rủi ro phá sản, bù đắp những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ; Bảo vệ người gửi tiền khi gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh: Nâng cao uy tín của NHTM với khách hàng, các nhà đầu tư. Đồng thời, vốn tự có đó cũng là cơ sở để NHTM mở rộng hoạt động tới các thị trường tài chính khu vực và quốc tế. + Quy mô vốn huy động Vốn huy động là những nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn của NHTM, đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là vốn kinh doanh chính và là đòn bẩy để nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng.
Một ngân hàng có thể huy động được một khối lượng vốn lớn, dễ dàng, trong một thời gian ngắn hẳn ngân hàng đó phải có một tiềm lực tài chính đủ mạnh, có uy tín và có khả năng ảnh hưởng lớn tới thị trường. + Quy mô vốn đi vay Các NHTM sẽ đi vay vốn để bổ sung vào vốn hoạt động của mình khi ngân hàng đã sử dụng hết vốn khả dụng mà vẫn không đủ hoạt động. Quy mô vốn vay thể hiện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 khả năng vay vốn của ngân hàng, nó cũng phản ánh năng lực tài chính của ngân hàng bởi một ngân hàng mạnh có thể chủ động vay được một khối lượng vốn cần thiết, dễ dàng hơn so với các ngân hàng khác có năng lực tài chính yếu, từ đ ó có thể tận dụng vốn đó để nắm bắt thời cơ kinh doanh hay đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng trong thanh toán, phòng ngừa rủi ro. + Quy mô vốn khác Quy mô vốn khác thể hiện khả năng gia tăng vốn của ngân hàng trong các hoạt động cung ứng dịch vụ, nó cũng phần nào nói lên chất lượng sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung ứng.
+ Tỷ trọng từng loại vốn trong tổng nguồn vốn: Tỷ trọng của vốn tự có, vốn huy động, vốn vay, vốn khác trong tổng nguồn vốn. Cấu trúc vốn phân theo kỳ hạn là ngắn hạn, trung hay dài hạn, hoặc phân theo chủ thể huy động vốn là cá nhân hay tổ chức, qua đó đánh giá cơ cấu nguồn vốn hiện tại của ngân hàng đã đảm bảo phát huy tốt nhất năng lực tài chính của ngân hàng hay chưa.2 Thanh khoản của ngân hàng Khả năng thanh khoản hay khả năng sẵn sàng chi trả, thanh toán cho khách hàng của NHTM và khả năng bù đắp những tổn thất khi xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Đánh giá khả năng và ý thức của một ngân hàng trong việc thực hiện đảm bảo an toàn về vốn, cho thấy khả năng chống đỡ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, lành mạnh hóa tài chính. Theo yêu cầu của ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) và chuẩn mực an toàn hoạt động ngân hàng của Ủy ban Basel, tỷ lệ an toàn vốn được đánh giá qua hệ số đủ vốn CAR.