PHẦN MỞ ĐẦU PHÂN NỘI DUNG CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 1. Tổ chức phi chính phủ (NGOs) 1. Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG II.
NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM 2. Tổng quan về Làng trẻ em SOS Việt Nam 2. Sự cần thiết phải đảm bảo năng lực tự chủ tài chính tại Làng trẻ em SOS Việt Nam 2. Những hoạt động nhằm đảm bảo năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam 2.
Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM 3. Phân tích SWOT Làng trẻ em SOS Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 3. Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 1. Tổ chức phi chính phủ (NGOs) 1. Lịch sử hình thành tổ chức phi chính phủ Chƣa có một tài liệu nào công bố đích xác thời gian xuất hiện tổ chức phi chính phủ (NGOs – Non Governmental Organizations). Tuy nhiên nói về nguồn gốc của loại hình tổ chức này, hầu hết các tài liệu đều có chung một quan điểm thống nhất cho rằng những tổ chức có dạng thức hoạt động tƣơng tự nhƣ hình thức tổ chức phi chính phủ mà chúng ta đang gọi ngày hôm nay đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại dƣới dạng hình hoạt động tình nguyện cứu trợ nhân đạo, từ thiện.
Sở dĩ quan điểm về sự xuất hiện lâu đời nhƣ vậy của tổ chức phi chính phủ bắt nguồn từ niềm tin tích cực cho rằng hoạt động nhân đạo, từ thiện thực sự là một truyền thống, niềm tự hào dân tộc của mọi quốc gia trên thế giới. Chính những hoạt động này đƣợc xuất phát từ nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội, gắn liền với con ngƣời có ý thức, và đặc biệt hơn là gắn liền với một xã hội có giai cấp. Hơn bất kì lĩnh vực nào, hoạt động nhân đạo và từ thiện đều mang tính chất Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm. Bởi một trong những chức năng và mục tiêu cao nhất của nhà nƣớc là đảm bảo đƣợc vấn đề an sinh xã hội cho nhân dân.
Tuy nhiên, không phải lúc nào nhà nƣớc cũng đảm bảo thực hiện đƣợc chức năng của mình một cách toàn diện nhất. Đó chính là lý do vì sao, hoạt động nhân đạo, từ thiện không phải là lĩnh vực chỉ mang tính nhà nƣớc, chính phủ, mà nó còn mang tính quần chúng, nhân dân, cộng đồng, tƣ nhân, diễn ra bên ngoài chính phủ. 1 Bởi vậy, một loại hình tổ chức khác, những tổ chức mang tính phi chính phủ đã ra đời nhƣ là một tất yếu khách quan. Ở giai đoạn sơ khởi này, tổ chức phi chính phủ tồn tại dƣới dạng một nhóm nhỏ những 1 Theo Nguyễn Văn Thanh (1995), Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 9-10.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời hoạt động từ thiện với tiêu chí cứu trợ nhân đạo với các nạn nhân bị chiến tranh, thiên tai, nghèo đói mà không phân biệt chính kiến và địa dƣ. 2 Mặc dù xuất hiện dƣới những hình thức sơ khai từ rất sớm, nhƣng nhiều quan điểm cho rằng phải đến khoảng giữa thế kỷ 19, những tổ chức phi chính phủ thực sự mới bắt đầu đƣợc thành lập. Do đến thế kỷ này, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản, sự phân cách giàu nghèo giữa tƣ sản và ngƣời lao động mới ngày càng sâu sắc. Sự phân hóa giai cấp, những cuộc cách mạng chống lại áp bức, bất công đã khiến nƣớc Pháp – quốc gia đầu tiên quyết định thừa nhận cần phải cứu trợ trẻ em bơ vơ, người tàn tật, người già không nơi nương tựa [8,12] một cách chính thức trong Hiến pháp của mình.
Cùng thời gian đó, ở Mỹ, các tổ chức thuộc khu vực không vụ lợi về y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo cũng phát triển rầm rộ để đáp ứng việc cứu trợ những nạn nhân của chủ nghĩa tư bản [8,12]. Đây chính là nền tảng quan trọng cho sự ra đời của tổ chức phi chính phủ “thực sự” sau này. Theo tính toán, từ năm 1850 đến nay, đã có hơn 100,000 tổ chức tƣ nhân, phi lợi nhuận chính thức đi vào hoạt động. Song, cũng phải sau đó một thế kỷ (sau Chiến tranh thế giới thứ hai), các tổ chức phi chính phủ mới xuất hiện với tần suất ngày càng phổ biến hơn.
Sự phổ biến hơn của các tổ chức này đƣợc thể hiện ở hai chỉ số: Thứ nhất: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mỗi năm có khoảng 90 tổ chức phi chính phủ quốc tế đƣợc thành lập so với con số 10 tổ chức vào những năm 90 của thế kỷ IXX. Thứ hai: Thêm vào đó, tỷ lệ % số tổ chức phi chính phủ quốc tế duy trì hoạt động đƣợc sau chiến tranh thế giới thứ hai cao hơn so với trƣớc đó, với khoảng 30% có thể tồn tại và phát triển. Ngoài các tổ chức phi chính phủ quốc tế, những tổ chức phi chính phủ mang tính địa phƣơng, quốc gia, khu vực cũng đƣợc thành lập, tuy nhiên không phải tất cả đều tồn tại hoặc thành công, ngay cả khi chúng hợp tác 2 Theo Đinh Quý Độ, Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, NXH Khoa học xã hội. tr 25 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cùng với các tổ chức mang tầm cỡ quốc tế.
3 Giải thích lý do cho sự phát triển khá nhanh về số lƣợng và quy mô của loại hình tổ chức này, ngƣời ta cho rằng đó là do hậu quả của toàn cầu hóa cùng với sự mở rộng hợp tác và phát triển quan hệ quốc tế trong nhiều kĩnh vực khác nhau, sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu như môi trường, dân số, nghèo đói, cách mạng thông tin với mạng Internet toàn cầu và xu hướng bùng nổ về dân chủ ở nhiều nước trên thế giới [5,26]. Nhƣ vậy, cùng với sự hình thành và phát triển của nhân loại trong lĩnh vực an sinh và phúc lợi xã hội, những tổ chức này đã ra đời từ rất sớm, hoạt động dƣới hình thức các nhóm ngƣời cùng chung tay hoạt động nhân đạo, từ thiện, xóa bỏ bớt những hậu quả do sự phân hóa giai cấp gây ra. Nhƣng mãi đến sau chiến tranh thế giới thứ II, loại hình này mới đƣợc chú trọng và phát triển một cách chuyên nghiệp, hệ thống hơn, đƣợc thừa nhận là một tổ chức có vai trò chính thức song song với chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Khái niệm tổ chức phi chính phủ Tổ chức phi chính phủ không là tài sản của riêng quốc gia nào, mà nó là tài sản của trí tuệ và lòng bác ái nhân loại.
Mặc dù phổ biến nhƣ vậy, nhƣng cho đến nay, những khái niệm về Tổ chức phi chính phủ vẫn chƣa đƣợc thống nhất. Về mặt ngữ nghĩa, có thể hiểu tổ chức phi chính phủ là bất kỳ tổ chức nào không thuộc chính phủ. Tuy nhiên bản thân từ phi chính phủ cũng có thể bị hiểu sai lệch theo nghĩa tƣơng đồng với chống chính phủ hoặc không cùng với chính phủ. Thêm vào đó, cách hiểu này cũng có thể bao hàm cả những tổ chức trong xã hội dân sự có mục tiêu thƣơng mại, lợi nhuận.
Bởi thế giải nghĩa này có phần đơn giản và không thể hiện đƣợc những đặc trƣng về chức năng, mục tiêu của tổ chức phi chính phủ. Về mặt pháp lý, năm 1945, thời điểm Liên hợp quốc soạn thảo Hiến chƣơng Liên hợp quốc và tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã sử dụng thuật 3 www.org, History of the NGO sector, 6.2008 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngữ Tổ chức phi chính phủ NGO để phân biệt quyền tham gia của các cơ quan chuyên môn liên chính phủ với quyền tham gia của các tổ chức tƣ nhân quốc tế. Nhƣng trong Điều 71, chƣơng 10 của Hiến chƣơng cũng chỉ đề cập đến vai trò tƣ vấn của các tổ chức không thuộc các chính phủ hay nhà nƣớc thành viên Liên hợp quốc chứ không định nghĩa cụ thể về Tổ chức phi chính phủ. Phải đến năm 1950, lần đầu tiên khái niệm Tổ chức phi chính phủ mới đƣợc Hội đồng Kinh tế và xã hội Liên hợp quốc định nghĩa một cách đơn giản: “Bất cứ tổ chức quốc tế nào không do các thỏa thuận liên chính phủ lập nên sẽ được coi là một tổ chức phi chính phủ… kể cả các tổ chức chịu nhận những người được các nhà cầm quyền chỉ định làm thành viên, miễn là với tư cách đó, họ không can thiệp vào việc tự do bày tỏ quan điểm của tổ chức đó.” Sau đó, đến năm 1996, Hội đồng Kinh tế xã hội Liên hợp quốc đã xác định 4 đặc trƣng cơ bản của một tổ chức phi chính phủ hợp pháp bao gồm: 1.
Phi thương mại; 2. Không tham gia vào bạo lực hoặc chủ trương bạo lực; 3. Không có ý định thay thế các chính phủ hiện có; 4. Ủng hộ các mục tiêu và chương trình nghị sự của Liên hợp quốc [17,5].
Về mặt học thuật, một số lý thuyết sâu sắc hơn về Tổ chức phi chính phủ đã đƣợc đƣa ra. Ví dụ, theo Salamon và Anheier, một tổ chức phi chính phủ phải có 5 đặc trƣng: có tổ chức, độc lập, không vì mục đích lợi nhuận, tự quản và tự nguyện [15,33]. Ngoài thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ với 5 đặc trƣng nhƣ Salamon và Anheier đƣa ra, hiện nay nhiều học giả khác cũng sử dụng những thuật ngữ khác mà họ cho rằng thể hiện đúng hơn bản chất, đặc trƣng của loại hình tổ chức này nhƣ: Tổ chức tự nguyện tƣ nhân (Private voluntary organization – PVO), Tổ chức phi lợi nhuận ( Non-profit organization), Tổ chức nhân dân ( People organization). Một số quan điểm khác cũng đánh đồng tổ chức phi chính phủ với tổ chức phi chính phủ quốc tế, bởi họ tin vào năng lực ảnh hƣởng rộng lớn của loại tổ chức này trong xã hội.