Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Lạng Sơn sở hữu đường biên giới dài 231 km với 2 cửa khẩu quốc tế, 1 cửa khẩu chính và 9 cửa khẩu phụ, tạo điều kiện giao thương sầm uất nhưng cũng là địa bàn phức tạp về buôn lậu và gian lận thương mại. Trong giai đoạn 2016 – 2019, Ban chỉ đạo 389 tỉnh Lạng Sơn đã phát hiện và xử lý tổng cộng 23.744 vụ việc buôn lậu, buôn bán hàng cấm và gian lận thương mại. Đáng chú ý, huyện Cao Lộc với hơn 75 km đường biên giới giáp Trung Quốc đã trở thành điểm nóng trọng điểm khi ghi nhận 11.322 vụ vi phạm, chiếm tới 47,68% tổng số vụ toàn tỉnh.

Hoạt động trinh sát của lực lượng Cảnh sát kinh tế giữ vai trò then chốt trong việc nắm bắt phương thức, thủ đoạn tinh vi của tội phạm để tổ chức triệt phá. Tuy nhiên, lực lượng trinh sát thực địa phải thường xuyên đối mặt với các nguy cơ bị tấn công vũ lực, chống đối nguy hiểm, lộ lọt thông tin bí mật và rủi ro pháp lý. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị An ninh phi truyền thống của tác giả Hoàng Ngọc Ánh tập trung nghiên cứu, đánh giá toàn diện năng lực quản trị rủi ro trong công tác trinh sát của 70 cán bộ, chiến sĩ thuộc Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Lạng Sơn trên địa bàn huyện Cao Lộc giai đoạn 2016 – 2019. Nghiên cứu hướng đến mục tiêu xác lập mô hình quản trị rủi ro chuẩn hóa, nâng cao tỷ lệ đấu tranh thành công các chuyên án lên mức tối đa và bảo đảm an toàn tuyệt đối tính mạng, sức khỏe cho cán bộ chiến sĩ trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết rủi ro hiện đại của Frank H. Knight, xem rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được bằng xác suất, kết hợp quan điểm tổn thất ngẫu nhiên của Allan Willett và Irving Pfeffer. Về góc độ an ninh, đề tài vận dụng khung lý thuyết An ninh phi truyền thống theo báo cáo của UNDP năm 1994 gồm 7 thành tố cơ bản, nhấn mạnh an ninh con người và an ninh kinh tế.

Đặc biệt, tác giả ứng dụng phương trình an ninh chủ thể của Giáo sư Nguyễn Văn Hưởng và Phó Giáo sư Hoàng Đình Phi để cụ thể hóa thành phương trình quản trị rủi ro trong hoạt động trinh sát của Cảnh sát kinh tế:

S'S = (S1 + S2 + S3) - (C1 + C3)

Trong đó, S'S đại diện cho an ninh tổng thể của trinh sát viên. Nhóm yếu tố tích cực gồm: S1 là mức độ an toàn (sức khỏe, nhận thức, trang thiết bị); S2 là tính ổn định của môi trường tác chiến; S3 là năng lực phát triển bền vững thông qua huấn luyện kỹ năng. Nhóm chi phí suy giảm gồm: C1 là chi phí quản trị phòng ngừa rủi ro; C3 là chi phí khắc phục tổn thất và xử lý khủng hoảng sau sự cố. Các khái niệm cốt lõi được định hình gồm trinh sát kinh tế bí mật, rủi ro tác chiến vùng biên và năng lực quản trị rủi ro an ninh phi truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 10 cán bộ chỉ huy và trinh sát viên trực tiếp bám địa bàn huyện Cao Lộc (bao gồm 1 đội trưởng và 9 trinh sát viên) trong tổng thể 70 cán bộ, chiến sĩ thuộc Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Lạng Sơn, nơi có 52 cán bộ đạt trình độ đại học và sau đại học (chiếm 74,3%).

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập ý kiến sâu sắc từ những cán bộ có thâm niên và kinh nghiệm đối đầu trực tiếp với tội phạm buôn lậu tại các điểm nóng như thị trấn Đồng Đăng và xã Cao Lâu. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo thống kê định kỳ 4 năm (2016 – 2019) của Ban chỉ đạo 389 tỉnh Lạng Sơn và hồ sơ nghiệp vụ của Công an tỉnh. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ xử lý và nghiên cứu điển hình 4 vụ án thực tế. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đáp ứng yêu cầu bảo mật thông tin nghiệp vụ lực lượng vũ trang, đồng thời lượng hóa chính xác các lỗ hổng rủi ro trong môi trường tác chiến vùng biên hiểm trở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, áp lực đấu tranh chống buôn lậu tại huyện Cao Lộc ở mức đặc biệt nghiêm trọng. Trong tổng số 23.744 vụ buôn lậu trên địa bàn toàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016 – 2019, huyện Cao Lộc chiếm tới 11.322 vụ (chiếm tỷ lệ 47,68%). Lực lượng Cảnh sát kinh tế đã trực tiếp phát hiện, điều tra 1.296 vụ việc trên địa bàn huyện, duy trì tỷ lệ xử lý hàng năm ổn định từ 10,34% (năm 2017) đến 11,85% (năm 2016).

Thứ hai, cơ cấu xử lý vi phạm phản ánh sự tinh vi của tội phạm. Toàn tỉnh Lạng Sơn đã xử lý hành chính 19.431 vụ (chiếm 81,83% tổng số vụ) với tổng giá trị hàng hóa tịch thu lên tới 494 tỷ đồng, trong khi chỉ khởi tố hình sự được 1.266 vụ (chiếm 5,33%). Thủ đoạn xé lẻ hàng hóa, thuê cư dân địa phương vận chuyển nhỏ lẻ qua đường mòn khiến việc xác lập chứng cứ khởi tố gặp nhiều rào cản.

Thứ ba, nhận thức và kỹ năng quản trị rủi ro của lực lượng trinh sát còn nhiều khoảng trống lớn. Khảo sát 10 cán bộ chiến sĩ thực địa cho thấy 40% (4/10 người) chưa từng tiếp cận khái niệm quản trị rủi ro bài bản; 70% (7/10 người) chưa từng tham gia xây dựng phương án phòng ngừa rủi ro cho kế hoạch tác chiến. Có đến 80% cán bộ khẳng định rủi ro về tính mạng, sức khỏe là mối đe dọa lớn nhất và 90% đánh giá đây là dạng tổn thất khó khắc phục nhất.

Thứ tư, thiếu hụt công nghệ giám sát từ xa. Hầu hết trinh sát vẫn sử dụng các biện pháp liên lạc thông thường, theo dõi thủ công và chưa được trang bị đầy đủ camera hồng ngoại, thiết bị bay không người lái hoặc định vị chuyên dụng để quản lý 75 km đường biên.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực tiễn cho thấy nguyên nhân dẫn đến rủi ro xuất phát từ tính chất manh động của các đường dây buôn lậu và sự chủ quan trong tổ chức lực lượng. Một số chuyên án tại đường 06 thị trấn Đồng Đăng hay xã Cao Lâu cho thấy trinh sát gặp sự cố bị đối tượng giằng co, ném gạch đá tẩu tán tang vật do lực lượng mỏng và thiếu phương án phối hợp chi viện khẩn cấp từ Bộ đội Biên phòng.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua Biểu đồ cột thể hiện tương quan số vụ bắt giữ tại Cao Lộc so với toàn tỉnh (dao động từ 2.636 đến 3.264 vụ mỗi năm), kết hợp Bảng ma trận cơ cấu nhân sự phản ánh 47,1% cán bộ ở độ tuổi sung sức 31 – 45 tuổi nhưng thiếu công cụ kỹ thuật hỗ trợ. So sánh với các nghiên cứu quản trị rủi ro cảnh sát quốc tế của Worden (2014) và Liwång (2014), việc thiếu hụt quy trình đánh giá rủi ro định lượng trước khi triển khai tác chiến chính là nguyên nhân cốt lõi làm giảm hiệu quả trinh sát và gia tăng nguy cơ mất an toàn thực địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và áp dụng bắt buộc quy trình quản trị rủi ro 5 bước (nhận diện, phân tích định tính, đánh giá định lượng, lập kế hoạch ứng phó, kiểm soát theo dõi) vào tất cả kế hoạch trinh sát. Lãnh đạo Phòng Cảnh sát kinh tế cần đặt mục tiêu 100% phương án trinh sát thực địa phải có kịch bản dự phòng sự cố ngay từ quý I/2021.

Thứ hai, đổi mới công tác huấn luyện và đào tạo kỹ năng quản trị an ninh phi truyền thống. Đơn vị cần phối hợp tổ chức định kỳ tối thiểu 2 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm cho toàn bộ 70 cán bộ, chiến sĩ, tập trung vào kỹ năng nhận diện cạm bẫy, xử lý tình huống đối đầu bạo lực và bảo mật nghiệp vụ trong giai đoạn 2021 – 2023.

Thứ ba, hiện đại hóa trang thiết bị và vũ khí hỗ trợ trinh sát công nghệ cao. Đề xuất Công an tỉnh Lạng Sơn và cấp có thẩm quyền đầu tư hệ thống thiết bị bay không người lái trinh sát tầm nhiệt, thiết bị định vị bí mật và camera ngụy trang, hướng tới nâng tỷ lệ trang bị kỹ thuật tiên tiến đạt trên 85% cho các tổ trinh sát vùng biên vào năm 2022.

Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp tác chiến liên hoàn và chia sẻ thông tin nghiệp vụ giữa Cảnh sát kinh tế, Bộ đội Biên phòng, Hải quan và Quản lý thị trường trên tuyến biên giới huyện Cao Lộc. Xây dựng quy chế phối hợp khẩn cấp bảo đảm thời gian chi viện lực lượng tại hiện trường không quá 15 phút khi xảy ra xung đột vũ lực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm lãnh đạo, chỉ huy lực lượng Cảnh sát kinh tế và Công an các cấp: Cung cấp khung lý thuyết quản trị hiện đại và công cụ phân tích ma trận rủi ro nhằm tối ưu hóa công tác phê duyệt kế hoạch tác chiến, phân bổ nguồn lực và bảo toàn quân số.

Nhóm cán bộ, trinh sát viên trực tiếp làm nhiệm vụ tại các địa bàn biên giới: Giúp nắm vững quy trình tự đánh giá nguy hiểm, kỹ năng nhận diện phương thức chống đối của tội phạm buôn lậu và các biện pháp tự vệ, bảo vệ tài liệu chứng cứ an toàn.

Nhóm cơ quan thực thi pháp luật liên ngành thuộc Ban chỉ đạo 389 (Hải quan, Biên phòng, Quản lý thị trường): Cung cấp góc nhìn thực tiễn về 11.322 vụ vi phạm tại Cao Lộc để hoàn thiện quy chế phối hợp chặn bắt, kiểm soát đường mòn lối mở và xử lý gian lận thương mại qua hệ thống thông quan tự động.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu an ninh, tội phạm học: Tài liệu tham khảo học thuật có giá trị thực chứng cao, bổ sung dữ liệu thực tế về phương trình quản trị an ninh phi truyền thống trong phòng chống tội phạm kinh tế vùng biên giới.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao huyện Cao Lộc lại là địa bàn buôn lậu phức tạp nhất tỉnh Lạng Sơn?

Huyện Cao Lộc có vị trí chiến lược với hơn 75 km đường biên giới, sở hữu 2 cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và Ga Đồng Đăng cùng hệ thống đường mòn hiểm trở. Địa hình rừng núi giáp biên tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng tập kết hàng lậu, khiến nơi đây chiếm tới 47,68% (11.322 vụ) tổng số vụ vi phạm toàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2019.

Rủi ro lớn nhất đối với cán bộ trinh sát Cảnh sát kinh tế là gì?

Khảo sát thực tế chỉ ra rằng 80% cán bộ xác nhận rủi ro tổn hại sức khỏe và tính mạng là nguy cơ lớn nhất, trong khi 90% đánh giá đây là thiệt hại khó khắc phục nhất. Nguyên nhân do các đối tượng buôn lậu sẵn sàng dùng hung khí chống trả, đâm xe vào chốt chặn hoặc kích động người dân cản trở lực lượng thi hành công vụ.

Phương trình an ninh chủ thể được ứng dụng trong trinh sát như thế nào?

Phương trình S'S = (S1 + S2 + S3) - (C1 + C3) giúp lượng hóa an ninh trinh sát. Mô hình cân đối giữa việc nâng cao năng lực an toàn, sức khỏe, trang bị hiện đại (S1), tính ổn định môi trường (S2) và đào tạo kỹ năng (S3) nhằm giảm thiểu tối đa chi phí khắc phục tổn thất sức khỏe và pháp lý (C3).

Tỷ lệ xử lý các vụ buôn lậu tại Lạng Sơn giai đoạn 2016 – 2019 diễn ra như thế nào?

Trong 23.744 vụ việc bị phát hiện, cơ quan chức năng đã xử lý hành chính 19.431 vụ (chiếm 81,83%) với tổng giá trị hàng hóa 494 tỷ đồng. Tỷ lệ khởi tố hình sự chiếm 5,33% (1.266 vụ), phản ánh thách thức lớn trong việc thu thập chứng cứ khi đối tượng liên tục chia nhỏ hàng hóa vận chuyển.

Giải pháp cấp bách nào giúp bảo đảm an toàn cho trinh sát vùng biên?

Giải pháp then chốt là chuẩn hóa quy trình đánh giá rủi ro 5 bước trước khi xuất quân, kết hợp đầu tư thiết bị bay không người lái và camera hồng ngoại để giám sát từ xa. Đồng thời, thiết lập mạng lưới chi viện liên ngành với Biên phòng dưới 15 phút sẽ triệt tiêu nguy cơ bị tấn công bất ngờ.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị rủi ro trong trinh sát Cảnh sát kinh tế dựa trên khung an ninh phi truyền thống.
  • Làm rõ thực trạng khốc liệt tại huyện Cao Lộc với 11.322 vụ buôn lậu trong giai đoạn 2016 – 2019, chiếm 47,68% quy mô toàn tỉnh.
  • Nhận diện chính xác các lỗ hổng về nhận thức khi có tới 40% cán bộ chưa từng tiếp cận khái niệm quản trị rủi ro chuyên sâu.
  • Thiết lập phương trình quản trị rủi ro trinh sát và quy trình 5 bước ứng dụng trực tiếp cho 70 cán bộ Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Lạng Sơn.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp đào tạo con người, hiện đại hóa công nghệ và siết chặt cơ chế phối hợp liên ngành.

Đóng góp lớn nhất của công trình là tiên phong đưa khoa học quản trị an ninh phi truyền thống vào giải quyết bài toán rủi ro thực tiễn của lực lượng trinh sát phòng chống buôn lậu tại địa bàn biên giới trọng điểm. Lộ trình thực hiện khuyến nghị chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 2021 – 2022 hoàn thiện quy trình chuẩn và nâng cấp trang thiết bị đạt trên 85%; giai đoạn 2023 – 2025 mở rộng đào tạo chuyên sâu và đồng bộ hóa cơ chế tác chiến vùng biên. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu an ninh và cán bộ thực thi pháp luật hãy tham khảo chi tiết toàn văn công trình để cùng thảo luận, chia sẻ và ứng dụng hiệu quả mô hình này vào thực tiễn công tác phòng chống tội phạm kinh tế.