Phần mở đầu, phần nội dung khoa học, phần kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo Phần nội dung khoa học gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực nhận thức cho học sinh Chƣơng 2: Thiết kế giáo án chƣơng Hidrocacbon không no (hóa học 11 nâng cao) Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN II: NỘI DUNG Ch-¬ng 1: C¬ së lý luËn VỀ ph¸t triÓn n¨ng lùc nhËn thøc CHO HỌC SINH 1. C¬ së lý luËn vÒ nhËn thøc: 1. Khái niệm nhận thức: Nhận thức là một trong ba mặt của đời sống tâm lý con ngƣời (nhận thức, tình cảm, lý trí). Nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với chúng và các hiện tƣợng tâm lý khác.
Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau, tuân theo một quy luật khách quan: “Từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng và từ tƣ duy trừu tƣợng đến tƣ duy thực tiễn. Đó là con đƣờng biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” Nhƣ vậy, nhận thức của con ngƣời diễn ra từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ phản ánh các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc tính bề ngoài, cụ thể, cá lẻ các sự vật, hiện tƣợng một cách trực tiếp đến phản ánh các thuộc tính bên trong, có tính quy luật, trừu tƣợng và khái quát hàng loạt sự vật, hiện tƣợng một cách gián tiếp. Điều đó cho thấy hai mức độ nhận thức thống nhất đó là: - Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) - Nhận thức lý tính (tƣ duy và trừu tƣợng) 1. Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) Là một quá trình tâm lí, nó là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tƣợng thông qua sự tri giác của các giác quan.
Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tƣợng. Tri giác phản ánh sự vật hiện tƣợng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định. Cảm giác và tri giác đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức. Nếu nhƣ cảm giác là hình thức nhận thức đầu tiên của con ngƣời thì tri giác là một điều kiện quan trọng trong sự định hƣớng hành vi và hoạt động của con ngƣời trong môi trƣờng xung quanh.
Nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng) Tƣởng tƣợng là một quá trình tâm lí phản ánh những điều chƣa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tƣợng đã có. Tƣ duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính qui luật của sự vật hiện tƣợng trong hiện thực khách quan mà trƣớc đó ta chƣa biết. Nét nổi bật của tƣ duy là tính “có vấn đề” tức là trong hoàn cảnh có vấn đề tƣ duy đƣợc nảy sinh. Tƣ duy là mức độ lý tính nhƣng có quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính.
Nó có khả năng phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tƣợng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy quá trình tƣ duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức, nắm bắt đƣợc quá trình này, ngƣời GV sẽ hƣớng dẫn tƣ duy khoa học cho HS trong suốt quá trình dạy và học môn hoá học ở trƣờng phổ thông, GV cần chú trọng những điểm sau: - Cần phải coi trọng phát triển tƣ duy cho HS nhƣng không thể tách rời với việc trau dồi ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ hóa học. - Việc phát triển tƣ duy không thể thay thế đƣợc việc rèn luyện cảm giác, tri giác, năng lực quan sát và trí nhớ cho HS. - Muốn thúc đẩy HS tƣ duy thì GV phải biết đƣa HS vào tình huống có vấn đề.
Quan điểm của nhà tâm lí học Jean Piaget về phát triển năng lực nhận thức. Những nghiên cứu của nhà tâm lí học nổi tiến ngƣời Thụy Sĩ – Jean Piaget về cấu trúc của quá trình nhận thức dựa trên nền tảng của môn Sinh học. Jean Piaget đã quan tâm tới bản chất của quá trình phát triển tƣ duy hay nhận thức trong di truyền học, đó là quá trình phát triển của học sinh về nhận thức tri thức đƣợc tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Jean Piaget chia quá trình nhận thức thành 4 giai đoạn: Giai đoạn thần kinh cảm nhận.
Giai đoạn tiền hoạt động. Giai đoạn hoạt động cụ thể. Giai đoạn hoạt động chính thức. Các lí thuyết nhận thức coi quá trình nhận thức bên trong với tƣ cách là một quá trình xử lí thông tin.
Bộ não xử lí các thông tin nhƣ một hệ thống kĩ thuật. Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hƣởng quyết định đến hành vi. Con ngƣời tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí bà đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử. Cấu trúc nhận thức của con ngƣời không phải bẩm sinh mà đƣợc hình thành qua kinh nghiệm.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung tâm của lí thuyết là các hoạt động trí tuệ: Xác định, phân tích tổng hợp, hệ thống hóa các sự kiện và đối tƣợng, nhớ lại những kiến thức đã biết, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tƣởng mới. Quá trình nhận thức khởi đầu bằng sự cảm nhận của ngƣời học về một hiện tƣợng mới. Chính ngƣời học phải tự mình phân tích, xử lí các thông tin, dữ liệu đã cảm nhận đƣợc để hiểu đƣợc hiện tƣợng mới và nhƣ vậy tự thu lƣợm đƣợc kiến thức mới. Mô hình của quá trình nhận thức 1.
Mô hình của quá trình nhận thức Một quá trình nhận thức thể hiện trong trí não chúng ta về thế giới xung quanh mình đó là các quá trình phân tích thông tin và xử lí các thông tin một số khác hƣớng vào nội tâm nhƣ những quá trình tƣ duy và tƣởng tƣợng. Theo mô hình này, tƣ duy và mọiHọc sinh cách nhận thức đều có thể tìm hiểu đƣợc Thông tin đầu vào Quá trình nhận thức Kết quả đầu ra bằng cách ( tri thức cũ) phân tích ra thành những bộ phận ( phân tích, tổng hợp,cấu thành. Khi thông tin đi qua hết các hệ thống của bộ não, những nội dung phức tạp sẽ đƣợc phân tích và sau đó giả mã, đơn giản hóa. Ta có thể hình dung nhận thức là một quá trình dây chuyền lắp ghép, đƣợc xây dựng từ những giai đoạn nguyên sơ nhƣ các cảm giác, tri thức cơ bản, tới những giai đoạn phức tạp hơn nhƣ lí luận và giả quyết vấn đề.Giải pháp để phát triển năng lực nhận thức -Tập trung sự chú ý vào những kiến thức đƣợc học.
-Từ kiến thức ban đầu, ngƣời học tu duy sáng tạo để mở rộng, hiểu sâu hơn những điều đã học và ghi nhớ lại theo cách riêng của mình ( tự mã hóa kiến thức). -Tăng dần khả năng nhận thức lên mức độ cao của ngƣời học. Qui trình kĩ năng phát triển nhận thức đƣợc trình bày tóm tắt trong sơ đồ sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kiên trì Phát triển và luyện Rèn Tự phát hiện và tập tập nhằm đạt trình luyện và tìm cách điều luyện độ cao ở các kỹ ghi nhớ chỉnh lệch lạc, một kỹ năng gồm nhiều kiến phát triển những năng thành phần, cuối thức để suy nghĩ thành mới cùng đạt kỹ năng đạt đến kiến thức phù trong tổng thể mô hình hợp với mục mỗi lý tƣởng đích đã định ngày Sơ đồ 1. Qui trình phát triển kĩ năng nhận thức Nhận thức đúng các kiến thức cơ bản thông qua các bài học và cách thức tiến hành thí nghiệm hóa học đòi hỏi ngƣời học dựa trên giải pháp phát triển nhận thức kĩ năng nhận thức.
Trong việc phát triển năng lực nhân thức của HS, khâu trung tâm là phát triển năng lực tƣ duy, trong đó đặc biệt chú trọng rèn luyện cho HS một số thao tác tƣ duy và phƣơng pháp tƣ duy.Vấn đề phát triển tư duy.Tư duy là gi? Tƣ duy là một quá trình tâm lí mà nhờ đó con ngƣời phản ánh những đối tƣợng và hiện tƣợng của hiện thực thông qua những dấu hiệu bản chất của chúng, đồng thời con ngƣời vạch ra đƣợc những mối liên hệ khác nhau trong mỗi đối tƣợng, hiện tƣợng và giữa các đối tƣợng, hiện tƣợng với nhau. Tư duy và trí tuệ dưới góc độ giáo dục a. Hoạt động nhận thức và trí tuệ. Hoạt động nhận thức đƣợc bắt đầu từ phôi thai của hành động đến các động thái của tƣ duy.
Hành động nhận thức có thể đƣợc biểu hiện thành lời ( kể, nói, tƣờng thuật, khiếu nại, khẳng định …) hoặc không thành lời (ghi nhớ, quyết định, so sánh, liên hệ…) Năng lực trí tuệ là thể hiện khả năng phản ứng của cá nhân đối với chất lƣợng của giao tiếp xã hội trong cộng đồng. Lớp học là nơi để học sinh thể TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện khả năng hợp tác trí tuệ, phê phán có ý thức, suy luận, khám phá…học sinh đƣợc động viên để nắm và khẳng định lại những nguyên tắc, ý tƣởng, lập luận và lý giải. Thiếu năng lực trí tuệ, ngƣời học không thể thực hành nhận thức một cách hiểu quả. - Tƣ duy: “ Dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của ngƣời ta sửa đổi và cải tạo, làm cho ngƣời ta có nhận thức đúng đắn về sự vật: Tƣ duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm đƣợc từ trƣớc”.
- Piaget định nghĩa tƣ duy nhƣ một dạng trí tuệ nội tâm, khác với trí tuệ giác - động ( cảm giác – vận động), không chỉ dựa trên hành động và tri giác, bằng ngôn ngữ, hình ảnh tinh thần…Tƣ duy gắn với sự tái tạo tinh thần vv… Nhƣ thế các hoạt động xem nhƣ các thủ pháp hoạt động tƣ duy có thể phát triển thông qua các hoạt động dạy và học. Những phẩm chất của hoạt động trí tuệ.