Chương 1 - Giới thiệu vấn đề nghiên cứu bao gồm các nội dung như sau: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; Các khảo lược nghiên cứu có liên quan đến đề tài và Bố cục kết cấu luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NHỮNG DẤU HIỆU CẢNH BÁO HẠN CHẾ NĂNG LỰC HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG 2. Nâng cao năng lực huy động vốn tiền gửi của NHTM 2.
Khái niệm về cạnh tranh Theo định nghĩa của Mac thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo Paul Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để tranh giành khách hàng và thị trường”. TheoGS Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ mà là để đem đến cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình”. Từ những khái niệm trên thì việc cạnh tranh trong các NHTM là một quy luật tất yếu mà các Ngân hàng phải thực hiện để tồn tại và phát triển.
Cạnh tranh trong các NHTM là sự ganh đua hợp pháp theo quy định của pháp luật, sự đấu tranh hợp pháp giữa các NHTM nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể như giành lấy thị phần, đạt được lợi nhuận cao, mở rộng nguồn vốn, thu hút nguồn nhân nhân lực hay đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình.“Cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của các NHTM. Các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh 2. Mô hình của Michael Porter Michael Porter là nhà hoạch định chiến lược và cạnh tranh hàng đầu thế giới hiện nay. Ông đã mô hình hóa các ngành kinh doanh và cho rằng ngành kinh doanh nào cũng phải chịu tác động của năm lực lượng cạnh tranh.
Ông đã viết hai cuốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 sách nổi tiếng là: “Chiến lược cạnh tranh” (Competitive Strategy, 1980) và “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (CompetitiveAdvantage of Nations, 1990). Hai quyển sách này chứa đựng hầu hết những tư tưởng của ông về cạnh tranh trên thị trường. Ông cho rằng, nếu một doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hoá sản phẩm thì không thể đảm bảo cho sự thành công trong lâu dài. Điều quan trọng nhất đối với doanh nghiệp đó là xây dựng được một lợi thế cạnh tranh bền vững.
Điểm nổi bật và quan trọng nhất trong lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter là việc đề xuất mô hình năm áp lực cạnh tranh. Ông cho rằng, trong bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào cũng có năm yếu tố tác động, đó là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang tồn tại; mối đe dọa về việc một đối thủ mới tham gia vào thị trường; nguy cơ có các sản phẩm dịch vụ thay thế xuất hiện; áp lực cạnh tranh từ sức ép của khách hàng; và cuối cùng là áp lực từ các nhà cung cấp.1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter Nguồn: Michael Porter (1985) Từ mô hình trên ông đề xuất các chiến lược như sau: Chiến lược chi phí thấp nhất: Mục tiêu của công ty theo đuổi chiến lược này là tạo lợi thế cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm với chi phí thấp nhất. Đặc điểm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 của chiến lược này là tập trung vào công nghệ và quản lý để giảm chi phí; Không tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm; Không đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, đưa ra tính năng mới, sản phẩm mới; Nhóm khách hàng mà công ty phục vụ thường là nhóm “khách hàng trung bình”. Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm: Mục tiêu của các công ty theo đuổi chiến lược này là đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra sản phẩm được xem là duy nhất, độc đáo đối với khách hàng, thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng cách thức mà các đối thủ cạnh tranh không thể.
Đặc điểm của chiến lược này là cho phép công ty định giá ở mức cao; Tập trung vào việc khác biệt hóa; Chia thị trường thành nhiều phân khúc khác nhau; Không quan trọng về chi phí. Chiến lược tập trung: Mục tiêu của chiến lược này chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của một phân khúc thị trường nào đó thông qua yếu tố địa lý, đối tượng khách hàng hoặc tính chất sản phẩm. Đặc điểm của chiến lược này là có thể theo chiến lược chi phí thấp; Có thể theo chiến lược khác biệt hoá sản phẩm; Tập trung phục vụ phân khúc mục tiêu. Chiến lược phản ứng nhanh: Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp đi từ chiến lược chi phí thấp, rồi chuyển sang chiến lược khác biệt hóa, và sau đó là biết cách kết hợp hai chiến lược trên.
Ngày nay, nhiều doanh nghiệp đạt lợi thế cạnh tranh do chú trọng đáp ứng về mặt thời gian. Điều này thể hiện trên các khía cạnh sau đây: Phát triển sản phẩm mới; Cá nhân hóa các sản phẩm; Hoàn thiện các sản phẩm hiện hữu; Phân phối các sản phẩm theo đơn đặt hàng; Điều chỉnh các hoạt động Marketing; Quan tâm tới những yêu cầu của khách hàng. Mô hình của Victor Smith (2002) Theo mô hình nghiên cứu của Victor Smith (2002), có năm nhân tố thể hiện năng lực cốt lõi của một tổ chức tài chính bao gồm: Nhân tố Nhãn hiệu: Bằng việc phát triển sự nhận biết về nhãn hiệu, Ngân hàng sẽ làm tăng giá trị trên thị trường thông qua việc quảng cáo và các chiến lược Marketing, không ngừng củng cố niềm tin và sự thỏa mãn của khách hàng. Quản trị thương hiệu thành công sẽ giúp cho Ngân hàng tăng thêm giá trị.
Phát triển nhãn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hiệu là chìa khoá để tạo sự khác biệt của Ngân hàng so với các Ngân hàng khác. Nhân tố sản phẩm: Sản phẩm được xem là có giá trị đối với khách hàng khi nó thoả mãn được nhu cầu của khách hàng và giá trị của sản phẩm phải dựa trên những nét đặc trưng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Nhân tố dịch vụ: Dịch vụ có hai thành phần là giao tiếp khách hàng (customer interface) và thực hiện giao dịch (transaction execution). Trong đó, giao dịch khách hàng là nhiệm vụ của tất cả nhân viên có tương tác trực tiếp với khách hàng như là bộ phân kinh doanh, bộ phân hỗ trợ khách hàng qua điện thoại, website doanh nghiệp, hệ thống trả lời bằng giọng nói và thư.
Để có thể phát triển giao tiếp với khách hàng thì cần phải phát triển dữ liệu, công nghệ internet, quản trị quan hệ khách hàng và quản lý sự tương tác của khách hàng. Điều này đòi hỏi phải thực hiện công tác đào tạo, truyền sự tự tin cho nhân viên và tạo ra một hệ thống kiến thức bao quát để quản lý được nhu cầu của khách hàng, duy trì được lợi thế cạnh tranh của Ngân hàng. Thực hiện giao dịch là tiếp nhân dữ liệu từ khách hàng và xử lý dữ liệu các dữ liệu đó với mục đích đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng. Nhân tố vốn trí tuệ: vốn trí tuệ gồm có nguồn vốn nhân lực và các kỹ năng, trách nhiệm của ban lãnh đạo là phải xác định và chuyển đổi các bí quyết thành kiến thức và các kỹ năng có thể tiếp cân được vào doanh nghiệp, phục vụ cho việc điều hành và vân hành doanh nghiệp.
Để xây dựng vốn trí tuệ cần phải quản trị kiến thức, quản trị nguồn nhân lực, rèn luyện kỹ năng và am hiểu sản phẩm. Nhân tố chi phí và hạ tầng: để có thể phát triển năng lực này đòi hỏi tổ chức phải linh hoạt, thống nhất hệ thống, quản trị chuỗi giá trị, quản trị rủi ro, quản trị chi phí, tuân thủ luật pháp và sự an toàn,. với mục đích đem lại hiệu quả cao về mặt tài chính và gia tăng giá trị cổ đông. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của NHTM từ nhiều tác giả như: Theo Đỗ Thị Minh Đức trong nghiên cứu “Đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” đã nhận định“năng lực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với NHTM khác.
Như vậy, năng lực cạnh tranh là yếu tố đòi hỏi sự năng động,”sáng tạo luôn thay đổi liên tục trong môi trường kinh tế nhằm tạo ra thế mạnh so với đối thủ.TS Nguyễn Thị Quy trong nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu thế hội nhập”“thì năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng là khả năng Ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế để duy trì và mở rộng thị phần; nhằm đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.”Tác giả cũng nhấn mạnh đến lợi thế nội tại của NHTM và các NHTM nên tận dụng các lợi thế riêng này phát huy ngày càng tốt hơn để giúp Ngân hàng kinh doanh phát triển vững mạnh. Từ những khái niệm trên có thể hiểu năng lực huy động vốn của NHTM là khả năng mà do chính Ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, để cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. Năng lực về hoạt động huy động vốn tiền gửi tại NHTM Năng lực“trong hoạt động huy động vốn tiền gửi tại các NHTM là khả năng mà do chính các Ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, để củng cố và mở rộng thị phần huy động vốn và thực hiện các mục tiêu khác trong điều kiện biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.