Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH NẴNG LỰC GIÁO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI QUA DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN VĂN HỌC DAN GIAN Ở CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 6 BẬC THCS 1. Những vấn đề chung về năng lực và đỗi mới chương trình sách giáo khoa bộ môn Ngữ Văn ở bậc trung học cơ sở theo định lurớng phát triển năng lực. Khai niệm và phân loại năng lực: Khai niệm năng lực Hiện nay chưa có thống kê chính thức, nhưng có trên 100 khái niệm năng lực từ các cá nhân đến các tổ chức giáo dục trong và ngoài nước.
kê một số khái niệm. Theo chương trình GDTH bang Québec, Canada: Nang lực là khá năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguôn lực |9] Theo tai liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của HS do Bộ giáo dục và Đảo tạo phát hành năm 2014: Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tô chức kiến thức, kỳ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức. hợp của hoạt động trong bói cánh nhất định[3] 'Còn chương trình giáo dục tổng thể của Bộ giáo dục khái niệm: *Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành và phát triển nhờ tô chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể".( BGD&ĐT(Dự án GREP)- Chương trình giáo dục tổng thê)[2] 20 Nhu vay, Nang lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân, được hình thành và phát triển trong một lĩnh vực hoạt động cụ thé. "Phân loại năng lực: Chương trình giáo dục phô thông tổng thể đề xuất 10 năng lực và năng lực được chia ra làm hai loại: năng lực chung - năng lực chuyên môn + Năng lực chung: Năng lực chung (general competency), hay năng lực cốt lõi (key competency), hay năng lực xuyên chương trình (cross curriculum competency) là các năng lực thiết yếu nhất cho tất cả các môn học và hoạt động.
giáo dục góp phần hình thành, phát triển năng lực tự chủ, tự học, năng lực giao tiếp. và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, để người họcđảm báo thành công trong học tập và trong cuộc sống. + Năng lực chuyên môn: là năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự nhiên vả xã hội, công nghệ, tin học, thâm mỹ, thể chất. + Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, năng lực chuyên.
môn, chương trình tổng thể còn hướng bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh. Các năng lực đặc biệt sẽ được nêu ở chương trình các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo. ‘Ching ta có thể ghi nhớ theo mô hình sau: Chương trình giáo dục phổ thông chương trình tổng thể công bố vào năm. 2018 đề ra các năng lực cần có khi học Ngữ văn như sau: + Năng lực ngôn ngữ: là năng lực sử dụng tiếng nói và chữ viết trong giao.
tiếp, thể hiện ở các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe. Đây là biểu hiện rõ nhất của năng. lực giao tiếp. + Nang lye vn học: là khả năng tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học.
“Các năng lực trên giúp học sinh nhận biết được ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp quan trọng vừa là phương tiện tư duy của con người, cũng là công cụ để học tốt tất cả các môn học. Theo xu hướng hiện nay, định hướng năng lực sẽ chuyển nền giáo dục chú trọng mục tiêu truyền thụ kiến thức một chiều hiện nay sang nền giáo dục chú trọng. hình thành, phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; Chuyển nên giáo dục nặng về ứng thí, chuộng hư danh sang nên giáo dục thực học và thực nghiệp; Chuyển nền giáo dục nặng về dạy chữ sang nền giáo dục chú trọng cả dạy chữ, dạy. nghề và dạy người; Hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân và yêu cầu xây dựng xã hội học tập; 'Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hoá, khoa học giáo dục.
của nhân loại trên cơ sở giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển bền vững nền giáo dục nước nhà. Hệ thống năng lực phẩm chất cần hình thành cho học sinh và vị thể của năng lực giao tiếp và hợp tác Khái niệm và vị thế của năng lực giao tiếp: Khái niệm giao tiếp: Các nhà khoa học đã đưa ra khá nhiều định nghĩa về giao tiếp. Giao tiếp là môi quan hệ qua lại giữa con người với con người, thể hiện sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó mà con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tr giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác giao tiếp là khả năng sử dụng các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đôi thông tin về các phương diện của đời sống xã hội, 2 trong từng cảnh, ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữ con người với nhau trong xã hội.
Trong hoạt động giao tiếp, mối quan hệ giao tiếp giữa con người với con người có thể xây ra với các hình thức sau đây: Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm với công đồng và buộc phải tuân theo quy tắc cơ bản nhằm đạt được mục tiêu giao tiếp Nguyên tắc giao tiếp cơ bản: + Tôn trọng nhân cách của đối tượng giao tiếp: Tôn trọng, niềm nở, ân cần, biết lắng nghe khi giao tiếp. + Có thiện ý trong giao tiếp: luôn mong muốn đem lại điều tốt đẹp cho người mag mình giao tiếp. Thiện ý được biểu hiện như cái “ tâm”, “tính thiện”, “ lòng. của con người.
+ Đồng cảm trong giao tiếp: Cùng có chung cảm xúc, cảm nghĩ giữa các. nhân vật trong quá trình giao tiếp. Để có được sự đồng cảm, mỗi người phải biết đặt mình vào vị trí của người khác, vào hoàn cảnh, lứa tuổi của người khác để suy nghĩ, cảm thông với niềm vui, nỗi buồn của họ. “Trong cuộc sống của loài người, giao tiếp đóng vai trò hết sức quan trọng và được biểu hiện qua các chức năng.
Chức năng của giao tiếp: Chức năng thuần túy xã hội: Là các chức năng giao tiếp phục vụ cho nhu cầu. chung của xã hội hay của một nhóm người ( Chức năng thông tỉn, chức năng phối hợp) Chức năng tâm lý xã hội: Là các chức năng giao tiếp phục vụ cho các nhu cầu của từng thành viên của xã hội, đáp ứng nhu cầu quan hệ giữa bản thân với người khác (Chức năng cảm xúc, Chức năng nhận thức lẫn nhau, chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng phố hợp hoạt động) + Biểu hiện: Giao tiếp giúp con người bày tỏ sở thích, khả năng, đặc điểm. tính cách, ưu nhược điểm của chính bản thân mình. 2 Chẳng hạn qua lời đối dap ngin gon cua Luom: “ Chau di lién lac/Vui lim chi a/G don mang cá/Thích hơn ở nha” đã bộc lộ Lượm là chú bé yêu nước, say mê công tác kháng chiến.
+ Giải trí : Giao tiếp cũng là một cách giải trí, giải tỏa những căn thẳng, bức bối trong lòng. Con người thường tìm đến nhau khi có những ưu phiền hay có. những niềm vui cần chia sẻ, tâm sự. + Hành đông: thông qua giao tiếp con người thúc đẩy nhau hành động.
Chẳng hạn khi A nói: “Ngày mai tôi sẽ mang sách cho cậu mượn” Thì A đã thực hiện một hành động “hứa hẹn” nên B cũng thực hiện một hành động * Chờ đợi”. Các chức năng trên vẫn thường được thực hiện đồng thời trong một cuộc. giao tiếp nhằm đạt được một mục đích giao tiếp nhất định. Hoạt động giao tiếp diễn ra nhờ sự tham gia của nhiều nhân tố giao tiếp như.
nhân vật giao tiếp, mục đích giao tiếp, nội dung giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, phương tiện giao tiếp. Theo phương tiện giao tiếp + Giao tiếp vật chất : giao tiếp thông qua hành động với vật thể. Ví dụ: Thông qua đồ chơi người lớn giao tiếp với trẻ em, người ta tặng cho nhau những vật kỷ niệm để nhớ nhau, để gửi gắm, tình cảm, suy nghĩ cho nhau. +Giao tiếp bằng tín hiệu phi ngôn ngữ: Là giao tiếp bằng cử chỉ, điệu bộ, hành động, ánh mắt, nụ cười để biểu thị sự đồng tình hay phản đối.
+ Giao tiếp bằng ngôn ngữ: Là thông qua tiếng nói, chữ viết Theo khoảng cách giao tiếp: + Giao tiếp trực tiếp. + Giao tiếp gián tiếp: Được thực hiện qua phương tiện trung gian như thư từ, báo chí, điện thọai Theo quy cách giao tiếp : + Giao tiếp chính thức + Giao tiếp không chính thức. 4 Giao tiếp là điều kiện tồn tại của cá nhân và của xã hội loài người, nhu cầu giao tiếp là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản xuất hiện sớm nhất của con người. Nhờ giao tiếp, con người gia nhập vào mối quan hệ xã hội, lĩnh hội nền văn hoá xã hội, quy tắc đạo đức, chuân mực xã hội, đồng thời nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu so sánh với người khác với chuẩn mực xã hội, tự đánh giá.
bản thân mình như một nhân cách để ình thành thái độ giá trị cảm xúc. Hay nói một cách khác đi, qua giao tiếp con người hình thành năng lực tự ý thức. Năng lực giao tiếp là sự phối hợp hợp lí các kĩ năng, thao tác, của chỉ,điệu bộ, hành vi ( hành vi ngôn ngữ) đảm bảo đạt kết quả trong quá trình giao tiếp của con người. Do vậy để có năng lực giao tiếp thì phải có kĩ năng giao tiếp như: + Kĩ năng định hướng giao tiếp: biểu hiện ở khả năng dựa vào sự biểu cảm, ngữ điệu, thanh điệu của ngôn ngữ, cử chỉ, động tác, thời điểm và không gian giao tiếp mà phán đoán chính xác về nhân cách, về vai trò giao tiếp của đối tượng và mỗi quan hệ giữa chủ thể đối tượng giao tiếp.
+ Kĩ năng định vị: là khả năng xây dựng mô hình nhân cách đối tượng giao tiếp đạt mức độ chính xác và tương đối ôn định dựa trên hoạt động nhận thức tích cực, nhằm đảm bảo sự đồng cảm giữa chủ thể và các đối tượng giao tiếp.