Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng lực đổi mới trong doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương 2: Thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương 14 z Chương 3: Áp dụng linh hoạt các mô hình chuyển giao công nghệ của Australia nhằm nâng cao năng lực đổi mới cho trong doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Hải Dương 9. Phần 3: Khuyến nghị 15 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỔI MỚI TRONG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Công nghệ Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người.
Từ “Công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp (τεκηνε - Tekhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng và (λογοσ - logos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu. Như vậy thuật ngữ technology (Tiếng Anh) hay technologie (Tiếng Pháp) có nghĩa là khoa học về kỹ thuật hay sự nghiên cứu có hệ thống về kỹ thuật - thường được gọi là công nghệ học. Công nghệ cũng được trình bày theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Sau đây là một số quan niệm thường gặp: - Tổ chức PRODEC (1982) đưa ra quan niệm: “Công nghệ là mọi loại kĩ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”.
- Ngân hàng thế giới thì định nghĩa (1985): “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm 3 yếu tố: Thông tin về phương pháp; Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để chuyển hóa; Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao.” - Theo định nghĩa công nghệ do U ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”. Định nghĩa công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ, mà khái niệm công nghệ đuợc mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội.
Những lĩnh vực công nghệ mới mẻ dần trở thành quen thuộc công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng… Ở Việt Nam, Nghị quyết 26 của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VI (1991) mang tên “Nghị quyết về khoa học – công nghệ”. Như vậy thuật ngữ công nghệ đã được sử dụng chính thức ở nước ta. Năm 1992, U ban khoa học - kỹ thuật Nhà nước đổi thành Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ). 16 z - Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 khái niệm: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.
Khái niệm này được giữ nguyên theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006. Theo phương diện KH&CN luận [17]: “Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”. Như vậy, có thể khái quát về khái niệm công nghệ như sau: Công nghệ là hệ thống các giải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các kiến thức khoa học, được sử dụng để giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh được thực hiện dưới dạng bí quyết kỹ thuật, phản ánh, quy trình công nghệ, tài liệu…và các dịch vụ hỗ trợ tư vấn. Công nghệ bao gồm phần cứng và phần mềm: - Phần cứng: máy móc, thiết bị, dụng cụ, kết cấu xây dựng, nhà xưởng - Phần mềm: Hình 1.
Các thành phần của Công nghệ •Bao gồm mọi phương tiện vật •Bao gồm mọi năng lực chất; công cụ. của con người: Kỹ Phần năng do học hỏi, tích máy móc, thang Phần lũy được và các tố thiết bị,. kỹ con chất,. thuật ngƣời (T) Phần (H) Phần tổ thông chức tin ( •Bao gồm nững quy (O ) I) •Bao gồm các dữ liệu về định quyền hạn, phần kỹ thuật, tổ chức, trách nhiệm của con người, các thông tin các cá nhân, tổ chức trong hoạt số đặc tính kỹ thuật của thiết bị động CN Nguồn: ThS.
Phạm Huy Hân [9] Thường khi nói đến công nghệ, người ta thường chỉ nghĩ đến công nghệ theo nghĩa “phần cứng”. Nếu hiểu theo nghĩa như vậy thì công nghệ bị giới hạn là những sản phẩm từ những nghiên cứu khoa học công nghệ, những nghiên cứu mang tính ứng dụng cao. Nhưng trong khoa học, ngoài nghiên cứu ứng dụng, triển khai còn có 17 z nghiên cứu cơ bản. Những nghiên cứu cơ bản này mang tính chất làm nền tảng cho những nghiên cứu khác.
Chuyển giao công nghệ Khái niệm CGCN là một khái niệm mới xuất hiện tại Việt Nam trong vài thập niên trở lại đây, nhưng nó nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam nói riêng, cũng như kinh tế xã hội của đất nước nói chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu, rộng với các quốc gia trên thế giới. Thuật ngữ CGCN đã được các học giả trong và ngoài nước bàn luận và tiếp cận với nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau. Tổng quát: “Chuyển giao công nghệ là việc đưa kiến thức kĩ thuật ra khỏi ranh giới nơi sản sinh ra nó” [20]. “Cẩm nang CGCN”- tài liệu do Bộ KH&CN (dịch từ nguyên tác tiếng Anh “Technology transfer an escap training manual” của Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thuộc Liên Hiệp quốc) biên soạn, đề cập: “CGCN nghĩa là công nghệ di chuyển qua biên giới quốc gia” [2] Theo quan điểm quản lý công nghệ: “chuyển giao công nghệ là tập hợp các hoạt động thương mại và pháp lí nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực đổi mới như bên giao công nghệ, trong khi sử dụng công nghệ đó vào một mục đích đã định” [20].
Nghị định 45/1998/NĐ-CP: “Chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thỏa thuận phù hợp với các qui định của pháp luật. Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc thiết bị, dịch vụ, đào tạo…kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán để tiếp thu, sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo các điều kiện đã thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ”. Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 đã giải thích: “Hoạt động chuyển giao công nghệ bao gồm chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyển giao công nghệ. Trong đó, chuyển giao công nghệ được hiểu là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công 18 z nghệ sang bên nhận chuyển giao, và Dịch vụ chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ”.
Hoạt động chuyển giao công nghệ Nguồn: Luật CGCN năm 2006 Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 đã khẳng định: “CGCN là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền chuyển giao sang bên nhận công nghệ” [14] Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động chuyển giao công nghệ được hiểu là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán để bên nhận có được những năng lực và công nghệ xác định, bên giao có thể thu được lợi nhuận từ việc chuyển giao công nghệ hoặc các lợi ích khác như: bán nguyên vật liệu, linh kiện, tận dụng nguồn chất xám của bên nhận. Dựa vào chủ thể tham gia chuyển giao công nghệ, có các hình thức chuyển giao công nghệ: chuyển giao nội bộ doanh nghiệp hay tổ chức (giữa cơ quan nghiên cứu và triển khai của công ty với các thành viên của nó ở trong một nước hay ở nhiều nước); chuyển giao trong nước (giữa các doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu và triển khai trong nước); chuyển giao với nước ngoài (bên giao và bên nhận thuộc hai quốc gia khác nhau, hoặc qua ranh giới khu chế xuất). Qua nội dung trình bày trên thấy rằng, khái niệm về CGCN mặc dù rất đa dạng, phong phú nhưng không đối nghịch nhau mà có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Tùy từng bối cảnh, điều kiện cụ thể, mà các khái niệm CGCN được đề cập phù hợp.
Tổng hợp các quan điểm nêu trên, học viên đồng ý với quan điểm cho rằng: “CGCN là tập hợp các hoạt động về kỹ thuật, thương mại, pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực đổi mới như bên giao công nghệ trong sản xuất, kinh doanh” [1]. Mô hình khái quát về chuyển giao công nghệ Nguồn: TS.Nguyễn Vân Anh [1] Đối tượng của quá trình chuyển giao công nghệ Tham gia vào quá trình chuyển giao công nghệ gồm các đối tượng sau: (1) Bên chuyển giao (bên cung): là các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu và các doanh nghiệp kinh doanh. Bên giao công nghệ thường là các cơ quan nghiên cứu khoa học, sở hữu công nghệ và có năng lực chuyển giao áp dụng công nghệ vào sản xuất thông qua các phương thức chuyển giao khác nhau hoặc là các doanh nghiệp nhà nước hoặc tư nhân hoạt động về chế tạo và kinh doanh. (2) Bên tiếp nhận công nghệ (Bên cầu): là các doanh nghiệp sản xuất tại các địa phương, người làm kỹ thuật tại các doanh nghiệp làng nghề, hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân sản xuất.
Đây là cơ sở áp dụng trực tiếp và cuối cùng các công nghệ được chuyển giao để phục vụ sản xuất. (3) Trung gian hỗ trợ (Kết nối cung - cầu): là các tổ chức quần chúng, tổ chức cộng đồng làng, xã, thôn, xóm.