Nâng cao năng lực đánh giá bằng nhận xét cho giáo viên tiểu học

Nâng cao năng lực đánh giá nhận xét cho giáo viên tiểu học. Bài viết chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp giúp giáo viên đánh giá hiệu quả học sinh tiểu học.

Chuyên ngành

Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết

2015

81
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn đánh giá bằng nhận xét theo Thông tư 27 cho GV

Đánh giá bằng nhận xét là một trụ cột trong đổi mới giáo dục tiểu học, được quy định cụ thể tại Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT. Phương pháp này chuyển trọng tâm từ việc cho điểm số sang quá trình theo dõi, hỗ trợ và đưa ra phản hồi mang tính xây dựng để thúc đẩy sự tiến bộ của mỗi cá nhân. Mục tiêu cốt lõi là đánh giá vì sự tiến bộ, giúp học sinh nhận ra điểm mạnh, khắc phục điểm yếu và phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực. Việc nâng cao năng lực đánh giá bằng nhận xét cho giáo viên tiểu học không chỉ là yêu cầu về chuyên môn mà còn là yếu tố quyết định sự thành công của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Năng lực này đòi hỏi giáo viên phải thành thạo nhiều kỹ năng sư phạm phức hợp, từ quan sát, lắng nghe đến phân tích và đưa ra những lời nhận xét chính xác, khích lệ. Một nghiên cứu của ThS. Lê Thị Thu Liễu (2015) tại các trường tiểu học TP.HCM đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc này, chỉ ra rằng hiệu quả của đánh giá bằng nhận xét phụ thuộc rất lớn vào năng lực và nhận thức của giáo viên. Thay vì chỉ tập trung vào kết quả cuối cùng, giáo viên cần quan tâm đến cả quá trình nỗ lực của học sinh. Điều này giúp xây dựng một môi trường học tập tích cực, nơi học sinh không sợ mắc lỗi và luôn được khuyến khích khám phá tiềm năng bản thân. Do đó, việc trang bị cho giáo viên những công cụ và phương pháp luận đúng đắn là nhiệm vụ cấp thiết của các cơ sở giáo dục.

1.1. Mục tiêu cốt lõi của đánh giá học sinh tiểu học hiện nay

Mục tiêu chính của việc đánh giá học sinh tiểu học không còn là để xếp hạng, so sánh giữa các em. Thay vào đó, nó hướng đến việc cung cấp thông tin phản hồi kịp thời để phát triển năng lực học sinh. Theo tinh thần của Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, đánh giá phải giúp giáo viên nắm bắt được mức độ đạt được của học sinh so với yêu cầu của chương trình, xác định những khó khăn các em đang gặp phải và nguyên nhân của chúng. Từ đó, giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học tích cực, cá nhân hóa lộ trình hỗ trợ để mọi học sinh đều có cơ hội tiến bộ. Đánh giá lúc này trở thành một công cụ sư phạm, giúp hình thành và phát triển các phẩm chất cốt lõi như chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm và các năng lực chung như tự chủ, tự học, giao tiếp và hợp tác.

1.2. Vai trò của Thông tư 27 trong đổi mới phương pháp đánh giá

Sự ra đời của Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, định hướng cho việc đổi mới hoạt động đánh giá ở cấp tiểu học. Văn bản này nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa đánh giá thường xuyênđánh giá định kỳ. Đánh giá thường xuyên được thực hiện liên tục trong quá trình dạy học thông qua quan sát, hỏi đáp, kiểm tra bài cũ, với mục đích hỗ trợ và động viên. Đánh giá định kỳ được tiến hành vào giữa và cuối học kỳ để xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập. Thông tư 27 cũng hướng dẫn chi tiết cách ghi nhận xét học bạ, yêu cầu những lời phê cho học sinh phải cụ thể, chỉ ra được điều học sinh đã làm được, điều cần cố gắng và gợi ý hướng khắc phục, tránh những nhận xét chung chung, sáo rỗng.

II. Top thách thức trong đánh giá bằng nhận xét giáo viên gặp

Mặc dù mang lại nhiều giá trị tích cực, việc triển khai đánh giá bằng nhận xét đặt ra không ít thách thức cho giáo viên tiểu học. Một trong những khó khăn lớn nhất, được chỉ ra trong nghiên cứu của Trường ĐHSP TP.HCM (2015), là áp lực về thời gian và khối lượng công việc. Với sĩ số lớp học đông, việc quan sát tỉ mỉ, ghi chép và đưa ra nhận xét cá nhân hóa cho từng học sinh đòi hỏi một sự đầu tư công sức khổng lồ. Kết quả khảo sát cho thấy 95% giáo viên thừa nhận “mất nhiều thời gian để ghi nhận xét vào vở, phiếu cho từng học sinh”. Thách thức thứ hai là việc đảm bảo tính khách quan và phân loại được rõ ràng trình độ của học sinh. Khoảng 74% giáo viên trong nghiên cứu trên cảm thấy “khó phân loại được rõ ràng trình độ của từng học sinh” khi không còn thang điểm cụ thể. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có kỹ năng sư phạm và khả năng phân tích sâu sắc để đưa ra những nhận định chính xác, công bằng. Ngoài ra, một số phụ huynh vẫn còn quen với cách đánh giá bằng điểm số, gây áp lực ngược lại cho giáo viên và nhà trường. Việc thay đổi một thói quen đã ăn sâu vào tiềm thức xã hội là một quá trình lâu dài, cần sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và toàn xã hội để thực sự nâng cao năng lực đánh giá bằng nhận xét cho giáo viên tiểu học.

2.1. Áp lực về thời gian và khối lượng hồ sơ sổ sách cần ghi chép

Sĩ số lớp học đông là một trong những rào cản chính. Khi một giáo viên phải phụ trách từ 35-40 học sinh, việc dành thời gian để quan sát kỹ lưỡng từng em trong mỗi hoạt động học tập là vô cùng khó khăn. Thêm vào đó, việc phải hoàn thiện các loại hồ sơ như sổ theo dõi chất lượng giáo dục, ghi nhận xét học bạ một cách chi tiết và có ý nghĩa khiến quỹ thời gian của giáo viên trở nên eo hẹp. Nhiều giáo viên rơi vào tình trạng quá tải, dẫn đến việc các lời phê cho học sinh có xu hướng trở nên rập khuôn, chung chung, làm giảm đi ý nghĩa thực sự của hoạt động đánh giá.

2.2. Khó khăn trong việc đưa ra phản hồi mang tính xây dựng

Để đưa ra một phản hồi mang tính xây dựng, giáo viên không chỉ cần kiến thức chuyên môn vững vàng mà còn cần sự tinh tế trong ngôn ngữ và am hiểu tâm lý lứa tuổi. Một lời nhận xét hiệu quả phải vừa chỉ ra được điểm cần cải thiện, vừa không làm học sinh cảm thấy tự ti, mặc cảm. Nó phải khơi gợi được động lực phấn đấu từ bên trong. Việc thiếu các công cụ hỗ trợ như rubrics đánh giá rõ ràng hoặc chưa được bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên một cách đầy đủ về kỹ thuật này là một khó khăn phổ biến. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi trong tư duy, chuyển từ việc “phán xét” kết quả sang “đồng hành” trong quá trình học tập.

III. Cách bồi dưỡng chuyên môn để nâng cao năng lực đánh giá

Để vượt qua các thách thức, hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đóng vai trò then chốt. Đây không phải là quá trình một sớm một chiều mà cần được thực hiện một cách thường xuyên, có hệ thống và bám sát thực tiễn. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào việc trang bị cho giáo viên những kiến thức và kỹ năng cụ thể để thực hiện hiệu quả Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT. Các chuyên đề cần đi sâu vào kỹ thuật quan sát học sinh, cách thiết kế và sử dụng các công cụ đánh giá như phiếu quan sát, bảng kiểm, và đặc biệt là rubrics đánh giá. Rubrics giúp tiêu chuẩn hóa các tiêu chí, làm cho việc nhận xét trở nên khách quan, nhất quán và minh bạch hơn. Bên cạnh đó, các khóa tập huấn cần rèn luyện cho giáo viên kỹ năng viết phản hồi mang tính xây dựng: cách dùng từ ngữ tích cực, cách đặt câu hỏi gợi mở để học sinh tự suy ngẫm và tìm ra giải pháp. Việc nâng cao năng lực đánh giá bằng nhận xét cho giáo viên tiểu học sẽ hiệu quả hơn khi các buổi bồi dưỡng được tổ chức dưới dạng hội thảo, workshop, nơi giáo viên có thể thực hành, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau thông qua các tình huống sư phạm thực tế. Hoạt động này cần được xem là một khoản đầu tư chiến lược để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

3.1. Tổ chức các chuyên đề về kỹ thuật quan sát học sinh hiệu quả

Một trong những kỹ năng sư phạm nền tảng của đánh giá bằng nhận xét là quan sát. Các buổi bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên cần tập trung vào các kỹ thuật quan sát học sinh một cách khoa học. Giáo viên cần được hướng dẫn cách quan sát có chủ đích, ghi chép lại những biểu hiện cụ thể về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh trong các hoạt động đa dạng. Kỹ thuật này không chỉ giới hạn trong giờ học mà còn mở rộng ra các hoạt động vui chơi, sinh hoạt tập thể. Việc sử dụng các công cụ như sổ nhật ký, phiếu ghi chép nhanh giúp hệ thống hóa thông tin, cung cấp bằng chứng xác thực cho những nhận xét sau này.

3.2. Vai trò của sinh hoạt chuyên môn trong việc chia sẻ kinh nghiệm

Hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là một giải pháp hiệu quả. Thay vì các buổi họp hành chính, các tổ chuyên môn có thể cùng nhau xây dựng kế hoạch bài dạy, dự giờ, phân tích các tình huống đánh giá thực tế. Trong các buổi này, giáo viên có thể chia sẻ những ca khó, những lời phê cho học sinh hay, hoặc cùng nhau xây dựng bộ công cụ rubrics đánh giá chung cho khối lớp. Môi trường hợp tác, chia sẻ này giúp các giáo viên, đặc biệt là những người mới vào nghề, cảm thấy tự tin hơn, đồng thời tạo ra một văn hóa học hỏi và cải tiến liên tục trong nhà trường, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng đánh giá học sinh tiểu học.

IV. Bí quyết áp dụng kỹ thuật đánh giá nhận xét thực tiễn

Việc nâng cao năng lực đánh giá bằng nhận xét cho giáo viên tiểu học không chỉ nằm ở lý thuyết mà phải được thể hiện qua các kỹ thuật ứng dụng thực tiễn trong lớp học. Một trong những bí quyết là đa dạng hóa các hình thức và công cụ đánh giá. Thay vì chỉ nhận xét qua lời nói hoặc ghi vào vở, giáo viên có thể sử dụng các công cụ như bảng kiểm (checklist), thang đo, hay hồ sơ học tập (portfolio). Hồ sơ học tập là một tập hợp các sản phẩm của học sinh qua một quá trình, là minh chứng rõ nét nhất cho sự tiến bộ. Kỹ thuật sử dụng rubrics đánh giá cũng là một phương pháp hiệu quả. Một rubric tốt sẽ mô tả rõ ràng các mức độ hoàn thành một nhiệm vụ học tập, từ đó giúp cả giáo viên và học sinh hiểu rõ mục tiêu cần đạt được. Điều này làm cho việc đánh giá thường xuyên trở nên minh bạch và dễ dàng hơn. Hơn nữa, việc kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh và đánh giá đồng đẳng (bạn bè đánh giá lẫn nhau) sẽ giúp phát triển năng lực học sinh một cách toàn diện. Khi học sinh được tham gia vào quá trình đánh giá, các em sẽ hiểu rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu của bản thân và có trách nhiệm hơn với việc học của mình.

4.1. Xây dựng và sử dụng rubrics đánh giá trong các môn học

Việc xây dựng rubrics đánh giá cần bám sát vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Mỗi rubric nên bao gồm các tiêu chí rõ ràng và các mức độ đạt được được mô tả bằng những hành vi cụ thể, có thể quan sát được. Ví dụ, với kỹ năng thuyết trình, các tiêu chí có thể là: nội dung, cấu trúc, ngôn ngữ cơ thể, khả năng tương tác. Mỗi tiêu chí sẽ có các mức độ như: Tốt, Đạt, Cần cố gắng. Việc sử dụng rubric giúp giáo viên đưa ra nhận xét nhất quán, công bằng, đồng thời cung cấp cho học sinh một “bản đồ” rõ ràng để phấn đấu. Đây là công cụ hữu hiệu để cụ thể hóa việc đánh giá phẩm chất và năng lực.

4.2. Tích hợp đánh giá vào các phương pháp dạy học tích cực

Đánh giá bằng nhận xét phát huy hiệu quả cao nhất khi được tích hợp một cách tự nhiên vào các phương pháp dạy học tích cực. Trong dạy học dự án, dạy học theo trạm hay học tập hợp tác, giáo viên có vô số cơ hội để quan sát học sinh làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, giao tiếp. Quá trình này chính là đánh giá thường xuyên. Giáo viên có thể đưa ra phản hồi ngay lập tức để điều chỉnh hành vi và định hướng cho học sinh. Ví dụ, khi quan sát một nhóm thảo luận, giáo viên có thể nhận xét: “Nhóm của con đã phân công công việc rất tốt, tuy nhiên bạn A cần tích cực đóng góp ý kiến hơn”. Những nhận xét tức thời như vậy có giá trị hơn nhiều so với những lời phê cuối kỳ.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu - Giới thiệu tầm quan trọng và tính cấp thiết của đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Nội dung nghiên cứu; Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu; Giới hạn mục tiêu và phạm vi nghiên cứu; và Cấu trúc của báo cáo tông kết. Phần II: Nội dung nghiên cứu Chương T: Cơ sở lý luận Chương 2: Thực trạng năng lực thực hiện đánh giá học sinh bằng nhận xét của giáo viên tại một sỐ trường tiểu học tại Tp. HCM Phần III: Kết luận, kiến nghị và các giải pháp Tài liệu tham khảo Phụ lục 10 PHAN II: NOI DUNG NGHIEN CUU CHUONG 1: CO SO LY LUAN 1.Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về đánh giá và đánh giá bằng nhận xét 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về đánh giá và đánh giá bằng nhận xét Đánh giá trong giáo dục có vai trò hết sức quan trọng vì đánh giá có thê chỉ ra được bức tranh thực trạng của giáo dục và sự phát triển của các cá nhân trong nền giáo dục. Chính vì vậy có thể xem đánh giá có chức năng định hướng cho giáo dục.

Ngoài ra, đánh giá còn đóng vai trò tạo động lực cho các cá nhân tham gia trong quá trình giáo dục mà cụ thê là người dạy và người học, sàng lọc và lựa chọn đề từ đó góp phần cải tiến chất lượng giáo dục. Trong lịch sử giáo dục, sự xuất hiện của đánh giá được đánh dấu bởi sự xuất hiện của các nghiên cứu về công cụ xác định đặc điểm nhân cách con người và thành quả giáo dục của các nhà tâm lý học và giáo dục học đã thực hiện từ những năm đầu của thế kỷ XX. Các nghiên cứu về trắc nghiệm là các nghiên cứu được nghiên cứu nhiều nhất trong các nghiên cứu về thành quả giáo dục. Đến năm 1929, nhà giáo dục người Mỹ Tylor trong thực tiễn cải cách phương pháp trắc nghiệm nhà trường đã nhận thấy rằng, trắc nghiệm không thể chỉ coi sách vở là trọng tâm mà phải lấy mục tiêu giáo dục nhất định để chỉ đạo.

Vấn đề cần được quan tâm trước nhất là những người xây dựng nên dựa vào mục tiêu kiến thức, mục tiêu về kĩ năng và mục tiêu thái độ mà tạo dựng bộ trắc nghiệm.Fisher hiệu trưởng Trường Y học Clin ở Anh (Linquist, 1969) đã công bố bảng đối chiếu tiêu chuẩn với nội dung chủ yếu là các ví dụ và việc trình bày bài tương ứng với trình độ chất lượng tập viết, ghép chữ, số học, và các môn khoa học khác, đồng thời quy định tiêu chuẩn tính điểm theo thang điểm 5. Đây là lần thử sớm nhất việc sử dụng phương pháp khoa học trong nghiên cứu những vấn đề về đo lường, đánh giá trong giáo dục. Và trong thời kì này có nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu những kĩ thuật cơ bản về đo lường trong giáo dục. Các nhà 11 nghiên cứu đi sâu vào làm rõ từng dạng câu hỏi trắc nghiệm và phân tích những ưu và nhược điểm của nó, trong đó phải kế đến S.

Từ giữa những năm 60 trở lại đây, phạm vi đánh giá đã mở rộng đến đánh giá nội dung và phương pháp giáo dục. Cùng với vai trò của đánh giá trong giáo dục được quan tâm nhiêu, lí luận và phương pháp đánh giá ngày càng được coi trọng. Điều này được đề cập nhiều trong các công trình của James H. Mcmillan, Patrick Griffin, Neville Postlethwait va cac tac gia khac (Victor, 1977).

Đầu những năm 1990, nhiều nhà làm chính sách giáo dục Hoa Kỳ cam thay những bất ồn trong việc đánh giá truyền thống bằng giấy bút nên đã cố gắng tìm ra những hình thức đánh giá khác, hiệu quả hơn. Hình thức đánh giá này cho phép thu hẹp khoảng cách giữa những gì người học học được trong trường với những điều đang diễn ra trong cuộc sống thực. Những cách đánh giá này bao gồm đánh giá học sinh tiểu học thông qua hồ sơ hay còn gọi là đánh giá bằng nhận xét. Một trong những công trình nghiên cứu lớn về đánh giá bằng nhận xét có thể kê đến “Portfolio Assessment: Getting Started.

Teaching Strategies” (Đánh giá bằng nhận xét: Những bước đầu. Chiến lược giảng dạy) của De Fina, Allan A. Đề thực hiện công trình nghiên cứu, tác giả đã mời các giáo viên, học sinh và phụ huynh tham gia việc đánh giá bằng nhận xét. Nghiên cứu về cách đánh giá bằng nhận xét này có thể được sử dụng hiệu quả trong bắt kỳ các lớp học nào.

Cuốn sách cũng cung cấp các đề xuất thiết thực cho việc bắt đầu, gợi ý về cách để quản lý quá trình và đưa ra một cái nhìn vào những lợi ích của việc đánh giá bằng nhận xét. Cuốn sách bao gồm những hoạt động đọc và viết cu thê có thể được sử dụng đề đánh giá kỹ năng đọc của học sinh và kế hoạch chiến lược giảng dạy phù hợp. Các chương trong cuốn sách là: (1) Tìm hiểu về đánh giá bằng nhận xét; (2) Bắt đầu; (3) Đánh giá băng nhận xét; (4) Quản lý đánh giá bằng nhận xét; (5) Lợi ích của đánh giá bằng nhận xét và (6) Đối phó với vấn đề có thê gặp phải trong đánh giá bằng nhận xét. Công trình cũng gồm bốn bản tin và số tay cung cấp các hướng dẫn và hỗ trợ cho giáo viên; 15 mẫu đánh giá bằng nhận xét.

Công trình “The Whole Story: Teachers Talk about Portfolios” (Một câu chuyện trọn vẹn: Giáo viên nói vê hô sơ học sinh) cua Smith, Mary Ann, Juska, Jane 12 (2001) cũng là một trong các công trình nghiên cứu nổi bật về đánh gia hoc sinh bang nhận xét. Kết quả của nghiên cứu này gồm một tập hợp nhiều bài viết của 11 giáo viên từ lớp một đến lớp mười hai trong việc sử dụng đánh giá bằng nhận xét. Trong công trình nghiêm túc và cập nhật này, giáo viên đã mô tả những lợi thế và sự phức tạp của việc sử dụng đánh giá bằng nhận xét như là một cách hiệu quả đề đánh giá và thúc đây thành tích học sinh. Các lớp học sử dụng cách đánh giá trong nghiên cứu này bao gồm lịch sử và sinh học với những kỹ năng viết, đọc và suy luận được kết nối với nhau.

Các bài viết trong nghiên cứu là: "Giới thiệu" (Mary Ann Smith); "Làm thế nào đánh giá bằng nhận xét phát huy sức mạnh trong giảng dạy và học tập" (Sherry Seale Swain); "Lớp học nhỏ theo phương pháp đánh giá bằng nhận xét" (Patricia McGonegal); "Đánh giá bang nhận xét làm nên sự khác biệt: Một hành trình bốn năm" (Judith Ruhana); "Su ra doi và cái chết của đánh giá băng nhận xét 1992-2000” (Pauline Sahakian); "Su phat triển của một giáo viên sinh hoc" (John Dorroh); " Dua ra một chiếc phao cứu sinh: Đánh giá bằng nhận xét như một công cụ giúp các trường sống sót" (Lisa Piazza); "Những gì chúng tôi viết khi chúng tôi viết về tình yêu" (Jane Juska); "Vai trò của giáo viên trong đánh giá bằng nhận xét" (Joni Chancer); "Phá vỡ z các quy tắc"xa (David Wood); "Người giống chuông" (Mary Kay Deen); va “Lich sir môn viết: Hồ sơ học sinh, Ý kiến học sinh và Sự hiểu biết lịch sử" (Stan Pesick). Nghién ctu “Developing Portfolios in Education: A Guide to Reflection, Inquiry, and Assessment” (Phát triển hồ sơ học sinh trong giảng dạy: Hướng dẫn trong Phản ánh, Thu thập và Đánh giá) của Johnson và các cộng sự (2006) trong phạm vi nghiên cứu về lợi ích của đánh giá bằng nhận xét đã cho thấy một số phương pháp đề tổ chức quá trình đánh giá cùng thu thập thông tin và cung cấp các công cụ sẽ được sử dụng trong suốt quá trình phát triển nghề nghiệp và học thuật. Các nội dung chính của nghiên cứu tập trung vào việc cung cấp một số khái niệm về phát triển đánh giá bằng nhận xét. Tác giả cũng đã giới thiệu về một số cách đánh giá bằng nhận xét được thiết kế, sử dụng và được hướng dẫn thông qua quá trình lựa chọn, tổ chức, đánh giá và trình bày một số tài liệu đánh giá bằng nhận xét.

Nhóm nghiên cứu còn nhắn mạnh đến vai trò của các tiêu chuẩn trong sự phát triển của việc đánh giá và cung cấp các ví dụ thực tế từ các trường học. 13 Như vậy, có thể thấy thuật ngữ “đánh giá bằng nhận xét” đã được sử dụng ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác trên thế giới với tên gọi là “đánh giá hồ sơ” từ những năm đầu của thế kỷ 20.2 Các nghiên cứu trong nước và hệ thống các văn bản quy định về đánh giá và đánh giá bằng nhận xét Ở Việt Nam, tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu này, mới chỉ có một nghiên cứu trong nước được thực hiện về chủ đề đánh giá học sinh bằng nhận xét. Đó là nghiên cứu “Thực trạng việc đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học bằng hình thức nhận xét” của Nguyễn Tuyết Nga và các cộng sự thực hiện năm 2008. Tuy các kết quả của nghiên cứu không được công bồ rộng rãi, nhưng mục tiêu của nghiên cứu là nhằm đánh giá thực trạng của việc triển khai đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hình thức nhận xét ở lớp 1, 2 và 3.

Việc quy định kiểm tra, đánh giá học sinh tiêu học được thé hién trén nhiéu van ban cua B6 Gido duc va Dao tao. Sau day, cac van ban cho thay căn cứ đề đánh giá, xếp loại học sinh dựa trên cơ sở: Theo chương trình tiểu học (Ban hành kèm theo quyết định số 43/2001/QĐ- BGD&ĐT ngày 9 tháng I1 năm 2001), việc đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học được quy định như sau: /⁄Đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của GV đối với các môn học Ti iéng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lt; 2/Danh gia chi bằng nhận xét của GV đối với các môn học và các hoạt động giáo dục khác. Theo Diéu 27 - Luật Giáo dục -2005, Mục tiêu giáo dục tiêu học là giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thê chất, thâm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. Theo đó, việc đạt được mục tiêu giáo dục này đòi hỏi phải có chương trình dạy học với các bộ môn phù hợp.

Vì vậy, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh đối với các môn học đề đạt được mục tiêu trên cũng rất quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ