Tổng quan nghiên cứu

Thanh Hóa là địa phương có quy mô kinh tế và nhân khẩu lớn tại khu vực Bắc Trung Bộ với diện tích tự nhiên đạt 11.133,4 km² (đứng thứ 5 cả nước) và quy mô dân số năm 2011 đạt 3.414,2 nghìn người (xếp thứ 3 toàn quốc, chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội). Tuy nhiên, địa phương này trong thời gian dài đối mặt với mức thu nhập bình quân đầu người khiêm tốn, chỉ đạt 839,7 nghìn đồng/tháng vào năm 2010 (bằng khoảng 60% mức bình quân cả nước là 1.387,2 nghìn đồng/tháng), xếp thứ 13/14 tỉnh trong vùng và tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao 25,3% (gần gấp đôi mức trung bình toàn quốc). Đứng trước thách thức thu hẹp khoảng cách phát triển, tỉnh đã kỳ vọng vào việc xây dựng Khu liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn với tổng mức đầu tư hơn 9 tỷ USD như một hạt nhân dẫn dắt tăng trưởng.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá tính khả thi của mục tiêu biến tổ hợp lọc hóa dầu thành cụm ngành động lực, đồng thời bóc tách các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh địa phương. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc nhận diện chính xác các trụ cột năng lực cạnh tranh của tỉnh, phân tích thực trạng cụm ngành lọc hóa dầu theo mô hình kinh tế học hiện đại, từ đó đề xuất hệ thống chính sách phù hợp cho giai đoạn 2011-2020. Nghiên cứu giải quyết bài toán cấp bách về chuyển dịch cơ cấu việc làm cho hơn 2,17 triệu lao động và gia tăng năng lực tự chủ ngân sách địa phương khi mức thu ngân sách năm 2011 chỉ đạt 9.989 tỷ đồng trong khi tổng chi lên tới 27.857 tỷ đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh Vùng - Địa phương của Michael E. Porter (2008), được điều chỉnh bởi chuyên gia Vũ Thành Tự Anh nhằm phản ánh sát thực tế thể chế và kinh tế Việt Nam. Khung phân tích này cấu thành từ ba nhóm yếu tố nền tảng: các yếu tố lợi thế tự nhiên sẵn có (vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, quy mô dân số); năng lực cạnh tranh cấp địa phương (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gồm y tế, giáo dục, chính sách tài khóa và tín dụng); và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp (chất lượng môi trường kinh doanh, mức độ phát triển cụm ngành, chiến lược công ty).

Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael E. Porter để mổ xẻ cụm ngành lọc hóa dầu qua 4 góc độ: điều kiện yếu tố sản xuất đầu vào, điều kiện cầu nội địa, cấu trúc cạnh tranh và chiến lược doanh nghiệp, cùng sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ. Để đánh giá sâu về chất lượng tăng trưởng, tác giả kết hợp mô hình phân tích phân rã năng suất của Fagerberg (2000) nhằm phân tách nguồn gốc năng suất thành ba thành phần: hiệu ứng nội ngành, hiệu ứng dịch chuyển tĩnh và hiệu ứng dịch chuyển động. Các khái niệm trung tâm bao gồm năng lực cạnh tranh địa phương, cụm ngành công nghiệp, năng suất lao động tổng hợp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định tính kết hợp phân tích số liệu thứ cấp chuỗi thời gian 11 năm (giai đoạn 2001-2011) và cập nhật đến năm 2013. Nguồn dữ liệu được trích xuất nhất quán từ Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê tỉnh Thanh Hóa, các báo cáo tài khóa của Sở Tài chính và dữ liệu khảo sát Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI). Cỡ mẫu dữ liệu bao gồm toàn bộ các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cấp tỉnh qua hơn một thập kỷ cùng mẫu điều tra diện rộng của hàng trăm doanh nghiệp dân doanh trên địa bàn tỉnh trong các kỳ công bố PCI từ năm 2006 đến 2013.

Phương pháp chọn dữ liệu toàn bộ theo chuỗi thời gian đảm bảo tính bao quát, loại trừ sai số mẫu nhỏ. Lý do lựa chọn phương pháp phân rã cấu phần năng suất Fagerberg kết hợp mô hình kim cương là nhằm bóc tách thực chất bản chất của tăng trưởng kinh tế địa phương: xác định xem năng suất gia tăng từ nội tại cải tiến kỹ thuật hay từ chuyển dịch lao động, đồng thời kiểm định xem một dự án quy mô hàng tỷ USD có đủ điều kiện cấu thành một hệ sinh thái cụm ngành hay chỉ dừng lại ở một nhà máy khép kín. Luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống so sánh đối chiếu với hai cụm ngành lọc hóa dầu điển hình trên thế giới là Abu Dhabi và Singapore.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu GDP của tỉnh Thanh Hóa có bước chuyển dịch nhanh chóng từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và xây dựng (tỷ trọng khu vực 1 giảm từ 37% năm 2001 xuống 19% năm 2011, khu vực 2 tăng từ 31% lên 49%), trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng áp đảo đạt 63,7% GDP công nghiệp vào năm 2011. Tuy nhiên, cơ cấu lao động lại chuyển dịch rất chậm chạp: đến năm 2011, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tới 56%, phản ánh sự mất cân đối sâu sắc giữa đóng góp giá trị sản lượng và khả năng giải quyết việc làm.

Thứ hai, kết quả phân rã nguồn gốc tăng trưởng năng suất theo phương pháp Fagerberg giai đoạn 2001-2011 chỉ ra rằng tăng trưởng năng suất của Thanh Hóa chủ yếu được dẫn dắt bởi hiệu ứng nội ngành, trong khi hiệu ứng dịch chuyển tĩnh và hiệu ứng dịch chuyển động đóng vai trò rất mờ nhạt. Mặc dù năng suất khu vực công nghiệp năm 2011 cao gấp 7,3 lần khu vực nông nghiệp (khu vực 1 chỉ đạt 3,6 triệu đồng/lao động theo giá cố định 1994), sự luân chuyển lao động giữa các ngành chưa tạo ra cú hích tăng năng suất toàn cục.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực là rào cản rất lớn khi tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 15 tuổi trở lên năm 2010 chỉ đạt 9,9% (thấp hơn nhiều so với Nghệ An 12,7% và Thừa Thiên Huế 16,9%), số sinh viên đại học chỉ đạt 4,6 sinh viên/1.000 dân. Ngược lại, môi trường kinh doanh cấp tỉnh ghi nhận bước nhảy vọt ấn tượng khi chỉ số PCI tăng từ 46,22 điểm (hạng 52 năm 2008) lên 61,59 điểm (xếp hạng 8/63 tỉnh thành năm 2013).

Thứ tư, qua phân tích mô hình kim cương, dự án Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn với công suất giai đoạn 1 đạt 200.000 thùng/ngày (nhập khẩu 100% dầu thô từ Kuwait) hoàn toàn không có các yếu tố nền tảng để hình thành cụm ngành hóa dầu: thiếu vắng nguồn nhân lực chuyên môn cao, hệ thống ngân hàng thương mại tại chỗ khó tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp phụ trợ, và hoàn toàn chưa có mạng lưới các viện nghiên cứu hay nhà máy hạ nguồn.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm giải thích rõ nguyên nhân tại sao việc đặt kỳ vọng vào Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn làm đầu tàu kéo toàn bộ nền kinh tế Thanh Hóa là một định hướng chưa sát thực tế. Lọc hóa dầu là ngành siêu thâm dụng vốn nhưng sử dụng rất ít lao động, lại đòi hỏi kỹ sư vận hành trình độ cao – điều mà hệ thống giáo dục địa phương với tỷ lệ lao động qua đào tạo 9,9% chưa thể đáp ứng. Khi đối chiếu với bài học quốc tế từ Singapore (nơi có hơn 70 tập đoàn hóa chất đa quốc gia cạnh tranh, được hỗ trợ bởi các tập đoàn logistics chuyên nghiệp như KNS, OOST và các trường đại học hàng đầu), Thanh Hóa cho thấy sự thiếu hụt hoàn toàn của các mắt xích công nghiệp phụ trợ.

Thực trạng này được minh họa trực quan qua sơ đồ cụm ngành lọc hóa dầu khép kín: dòng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm xăng dầu đầu ra đều được kiểm soát bởi các công ty thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, tạo ra rất ít hiệu ứng lan tỏa đến khu vực doanh nghiệp tư nhân địa phương. Bảng cơ cấu chi ngân sách cũng phản ánh Thanh Hóa phải dành tới 59,7% chi thường xuyên năm 2011 (trong đó giáo dục chiếm 40%), hạn chế đáng kể nguồn vốn đầu tư công trực tiếp cho cơ sở hạ tầng cụm ngành công nghệ cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cần chủ động phối hợp với Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ cho phép áp dụng cơ chế tài khóa đặc thù: giữ lại một tỷ lệ điều tiết hợp lý (khoảng 15-20%) từ nguồn thu thuế và ngân sách phát sinh từ Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn sau khi đi vào vận hành từ năm 2017 để tái đầu tư trực tiếp vào các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trọng yếu của địa phương.

Thứ hai, Sở Công Thương và Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn cần tái định hướng chiến lược xúc tiến đầu tư, chuyển trọng tâm sang hỗ trợ các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thâm dụng lao động đang có đà tăng trưởng bứt phá trong giai đoạn vừa qua như sản xuất da giày (tăng trưởng 78,05%), may mặc (tăng trưởng 49,02%) và sản phẩm nội thất (tăng trưởng 31,76%). Mục tiêu đến năm 2020 là thu hút từ 150-200 doanh nghiệp quy mô vừa và lớn, tạo thêm 100.000 việc làm phi nông nghiệp nhằm hấp thu hiệu quả 56% lực lượng lao động đang dôi dư trong khu vực nông nghiệp.

Thứ ba, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng các trường Đại học Hồng Đức, Đại học Công nghiệp TP.HCM (phân hiệu Thanh Hóa) và hệ thống trường nghề triển khai chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2015-2020. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 9,9% lên trên 25% vào năm 2020, gắn đào tạo với nhu cầu tuyển dụng thực tế của các doanh nghiệp chế tạo và chuỗi cung ứng công nghiệp.

Thứ tư, Sở Giao thông Vận tải và Sở Kế hoạch và Đầu tư cần đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông huyết mạch, phối hợp hoàn thành tuyến cao tốc Ninh Bình - Thanh Hóa và nâng cấp Quốc lộ 1A với 4 làn xe cơ giới nhằm rút ngắn thời gian di chuyển từ Nghi Sơn về trung tâm Hà Nội từ 5 giờ xuống còn 2 giờ. Đồng thời, duy trì cải cách hành chính để giữ vững vị thế chỉ số PCI trong nhóm 10 tỉnh dẫn đầu cả nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh (UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế) có thể ứng dụng khung phân tích để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch các khu công nghiệp phù hợp với lợi thế so sánh thực tế thay vì chạy theo các dự án thâm dụng vốn nhưng ít tạo việc làm.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế có thể sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp phân tích cụm ngành theo mô hình Kim cương của Michael Porter và phương pháp phân rã cấu phần năng suất Fagerberg ứng dụng cho cấp độ địa phương.

Nhóm hiệp hội doanh nghiệp, các nhà đầu tư tư nhân và doanh nghiệp FDI trong các lĩnh vực may mặc, da giày, vật liệu xây dựng và logistics có thể khai thác các dữ liệu phân tích thị trường lao động, hạ tầng cảng biển Nghi Sơn và các chính sách ưu đãi đất đai để xây dựng phương án mở rộng sản xuất.

Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược và các tổ chức tài chính phát triển có thể sử dụng các phát hiện thực nghiệm để đánh giá tác động lan tỏa của các siêu dự án lọc hóa dầu, từ đó thẩm định chính xác tính khả thi kinh tế - xã hội của các khoản tín dụng đầu tư quy mô lớn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn không thể trở thành động lực duy nhất dẫn dắt kinh tế tỉnh Thanh Hóa?
Dự án có quy mô vốn trên 9 tỷ USD nhưng là ngành siêu thâm dụng vốn, sử dụng ít lao động và vận hành theo quy trình kỹ thuật khép kín với 100% dầu thô nhập khẩu từ Kuwait. Do thiếu vắng mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ và nguồn nhân lực kỹ thuật cao tại chỗ, dự án tạo ra rất ít hiệu ứng lan tỏa nội địa.

Nguồn gốc tăng trưởng năng suất lao động của Thanh Hóa giai đoạn 2001-2011 phản ánh điều gì?
Phân tích theo mô hình Fagerberg chỉ ra tăng trưởng năng suất chủ yếu đến từ hiệu ứng nội ngành nhờ cải tiến kỹ thuật nội bộ của từng doanh nghiệp. Hiệu ứng dịch chuyển lao động giữa các ngành rất thấp do 56% lao động vẫn mắc kẹt trong khu vực nông nghiệp có năng suất thấp.

Thanh Hóa sở hữu những lợi thế cạnh tranh tự nhiên nào nổi bật nhất cho phát triển kinh tế?
Thanh Hóa có quy mô dân số trên 3,4 triệu người (đứng thứ 3 cả nước), lực lượng lao động dồi dào trên 2,17 triệu người, bờ biển dài 102 km với cảng nước sâu Nghi Sơn tiếp nhận tàu 50.000 tấn và vị trí cửa ngõ kết nối miền Bắc với miền Trung thuận lợi cho lưu thông hàng hóa.

Những ngành kinh tế nào phù hợp nhất để tỉnh Thanh Hóa ưu tiên phát triển trong ngắn và trung hạn?
Tỉnh nên ưu tiên các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thâm dụng lao động có tốc độ tăng trưởng cao như da giày (tăng 78,05%), may mặc (tăng 49,02%), sản xuất nội thất (tăng 31,76%), sản xuất vật liệu xây dựng xi măng và du lịch biển nhằm giải quyết việc làm diện rộng.

Yếu tố nào giúp chỉ số năng lực cạnh tranh PCI của Thanh Hóa có sự bứt phá mạnh mẽ vào năm 2013?
Chỉ số PCI của tỉnh đạt 61,59 điểm (xếp hạng 8 toàn quốc năm 2013) nhờ những cải cách vượt bậc trong việc giảm chi phí gia nhập thị trường, tạo điều kiện tiếp cận đất đai ổn định, nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu thời gian thanh kiểm tra và đẩy mạnh dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ bản chất tăng trưởng kinh tế Thanh Hóa: chuyển dịch mạnh về cơ cấu GDP nhưng chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm trễ, năng suất khu vực nông nghiệp chỉ bằng 1/7 khu vực công nghiệp.
  • Khẳng định mục tiêu biến Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn thành hạt nhân cụm ngành dẫn dắt toàn tỉnh là không khả thi do chuỗi giá trị khép kín, thiếu tính lan tỏa và tỷ lệ lao động kỹ thuật cao địa phương chỉ đạt 9,9%.
  • Xác định lợi thế cạnh tranh cốt lõi của địa phương nằm ở quy mô nguồn nhân lực dồi dào, phù hợp nhất với các ngành chế biến - chế tạo thâm dụng lao động như may mặc, da giày, chế biến lâm sản và du lịch.
  • Đóng góp khung chính sách thực tiễn giai đoạn 2015-2020: cơ chế tài khóa đặc thù giữ lại nguồn thu từ dự án Nghi Sơn để đầu tư nâng cấp giáo dục, y tế và hạ tầng kết nối cao tốc Ninh Bình - Thanh Hóa dưới 2 giờ di chuyển.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương khẩn trương chuyển hướng ưu tiên thu hút đầu tư, liên kết các cơ sở đào tạo nghề với doanh nghiệp nhằm đưa năng suất lao động địa phương phát triển bền vững. Hãy tham khảo toàn văn nghiên cứu để áp dụng các hàm ý chính sách giá trị này vào thực tiễn quản lý kinh tế địa phương.