mở đầu bằng việc trình bày bối cảnh chính sách và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, sau đó đề xuất câu hỏi nghiên cứu. Chương 2, tác giả trình bày hiện trạng phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2001-2011. Phương pháp nghiên cứu, khung phân tích năng lực cạnh tranh Vùng- Địa phương và thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh Thanh Hóa được tác giả trình bày trong Chương 3. Chương 4 tác giả phân tích cụm ngành lọc hóa dầu Thanh Hóa.
Sau cùng, Chương 5 tác giả đưa ra các đánh giá và gợi ý chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Thanh Hóa. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH THANH HÓA 2.1 Các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển kinh tế 2.1 GDP, đầu tư và xuất nhập khẩu Hình 2.1 cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP của Thanh Hóa tăng nhẹ và đều trong các giai đoạn 2001- 2004; giai đoạn 2006- 2008; có hiện tượng giảm đột ngột trong các năm 2005 (8,5%), 2009 (10,8%) tuy nhiên lại tăng mạnh vào năm tiếp theo với tốc độ năm 2006 đạt 10,2% và năm 2010 đạt 13,66%. Trong giai đoạn 2001- 2007, tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước cũng tăng nhẹ và khá ổn định.
Tuy nhiên đến năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam bắt đầu đi xuống và đỉnh điểm là năm 2009 với mức giảm sâu xuống 5,32%. Trong giai đoạn từ năm 2009- 2011, tốc độ tăng trưởng GDP của Thanh Hóa có cùng xu hướng tăng trưởng đồng thời đạt gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước, cao nhất vào năm 2010 với mức tăng trưởng 13,66%.1 Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2001-2011 (giá 1994) Nguồn: NGTK Việt Nam năm 2000, 2005, 2010; NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011. Trong suốt giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007, nguồn vốn đầu tư từ khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh khá cân bằng. Từ năm 2008 đến năm 2010, nguồn vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Nhà nước có xu hướng tăng lên và chiếm tỷ trọng cao hơn, đóng vai trò dẫn dắt trong việc tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.2 Vốn đầu tư giai đoạn 2001- 2011 (tỷ đồng) Nguồn: NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011.
Kim ngạch xuất khẩu của Thanh Hóa tăng dần qua các năm, từ năm 2007 có xu hướng tăng nhanh và mạnh hơn. Năm 2011, kim ngạnh xuất khẩu đạt 394,34 triệu USD. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh là hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, chiếm đến 74,2% tổng giá trị xuất khẩu. Kim ngạch nhập khẩu của tỉnh khá ổn định trong giai đoạn năm 2000- 2007.
Đột biến vào năm 2008, giá trị nhập khẩu tăng cao hơn giá trị xuất khẩu, đạt 162,33 triệu USD. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng công nghiệp nặng, khoáng sản, phục vụ cho nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu (triệu USD) Nguồn: NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011. Thanh Hóa là một tỉnh nghèo với thu nhập bình quân đầu người thấp hơn khá nhiều so với trung bình cả nước.
Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 839,7 nghìn đồng/người, chỉ bằng 60% so với cả nước và xếp thứ 13/14 tỉnh Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, thứ 54/64 tỉnh trên cả nước.1 Thu nhập bình quân đầu người/tháng (1.000đ/người) Tỉnh 2006 2008 2010 Thanh Hóa 395 604,7 839,7 Nghệ An 413 639,9 919,6 Hà Tĩnh 400 594,8 839,7 Quảng Bình 420 645 949,7 Quảng Trị 436 659,6 950,7 Huế 517 803,6 1058,3 Cả nước 636,5 995,2 1387,2 Nguồn: Số liệu thống kê vị thế kinh tế- xã hội 63 tỉnh, thành phố Việt Nam. Thanh Hóa có tỷ lệ hộ nghèo cao thứ 2 khu vực Bắc Trung Bộ chỉ sau tỉnh Hà Tĩnh và thứ 16 cả nước, năm 2010 đạt 25,3%1 cao gần gấp đôi so với trung bình của cả nước. Đây là một gánh nặng về chính sách cho tỉnh. 1 Hội Thống kê Việt Nam (2011).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Cơ cấu kinh tế * Cơ cấu GDP phân theo ngành: gồm 3 khu vực: 1. Nông, lâm, thủy sản; 2. Công nghiệp, xây dựng; 3. Du lịch, dịch vụ.4 Cơ cấu GDP giai đoạn 2001- 2011 (giá 1994) Nguồn: NGTK Việt Nam năm 2000, 2005, 2010; NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011.
Cơ cấu GDP tỉnh Thanh Hóa đang có xu hướng chuyển từ khu vực 1 sang khu vực 2, phù hợp với xu thế chung của cả nước và nhu cầu phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Năm 2001, cơ cấu GDP khu vực 1 của tỉnh chiếm 37% nhưng sang đến năm 2011 giảm xuống chỉ còn 19%; Cơ cấu GDP của khu vực 2 tăng từ 31% vào năm 2001 lên 49% vào năm 2011; Khu vực 3 có khá ít biến động, ngoại trừ năm 2008 giảm mạnh xuống 15%. Trong cơ cấu GDP khu vực 2 tỉnh Thanh Hóa, ngành công nghiệp chế tạo, chế biến chiếm tỷ lệ rất lớn, năm 2011 chiếm tới 63,7% cơ cấu GDP khu vực 2, được đóng góp bởi các doanh nghiệp sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, mây tre đan; may mặc; giày da; chế biến đồ hộp, thủy hải sản trên địa bàn tỉnh. Ngành công nghiệp xây dựng tăng nhanh và mạnh hơn trong những năm từ 2007 đến nay, cùng với chính sách đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng mạnh mẽ của Nhà nước phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng như cả nước.
Năm 2011, đóng góp của ngành công nghiệp xây dựng vào GDP tỉnh đạt giá trị 3498,4 tỷ đồng, chiếm 31,52% cơ cấu GDP khu vực 2 của tỉnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.5 Cơ cấu GDP khu vực 2 (tỷ đồng, giá 1994) Nguồn: NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011. * Cơ cấu lao động theo ngành Hình 2.6 Cơ cấu lao động theo ngành Nguồn: NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011.6, cơ cấu lao động theo ngành trong suốt giai đoạn 2001- 2009 hầu như không có sự thay đổi. Sang năm 2010, 2011 có sự dịch chuyển lao động mạnh mẽ từ khu vực 1 sang khu vực 2 và khu vực 3.
Cụ thể là năm 2011, lao động ở khu vực 1 chỉ còn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 56%, khu vực 2 tăng lên 20% và khu vực 3 tăng lên 24%. Có được điều này là do sự phát triển ngày một nhiều của các ngành nghề thương mại, dịch vụ, chế biến, chế tạo.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng suất * Năng suất lao động phân theo khu vực kinh tế Năng suất lao động của khu vực 2 cao hơn hẳn so với khu vực 1 và khu vực 3. Tốc độ tăng năng suất của khu vực 1 rất chậm, năm 2001 đạt 2,4 triệu đồng/lao động nhưng đến năm 2011 chỉ mới tăng lên đến 3,6 triệu đồng/lao động, kém hơn 5,5 lần vào năm 2001 và 7,3 lần vào năm 2011 so với khu vực 2.7 Năng suất lao động phân theo khu vực kinh tế (triệu đồng/lao động, giá 1994) Nguồn: NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011. * Nguồn gốc tăng trưởng năng suất: Áp dụng phương pháp phân tích dịch chuyển cấu phần của Fagerberg (2000), nguồn gốc tăng trưởng năng suất của nền kinh tế được xác định qua 3 hiệu ứng: i.
Hiệu ứng tĩnh: do sự dịch chuyển lao động giữa các ngành. Hiệu ứng động: do sự chuyển dịch lao động giữa các ngành và thay đổi năng suất nội ngành. Hiệu ứng nội ngành: do sự thay đổi năng suất trong nội ngành. Kết quả phân tích nguồn gốc tăng trưởng năng suất tỉnh Thanh Hóa được thể hiện trên Hình 2.8 cho thấy, trong suốt cả giai đoạn 2001-2011, hiệu ứng nội ngành đóng vai trò lớn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 nhất trong tăng trưởng năng suất của tỉnh, sau đó đến hiệu ứng tĩnh và cuối cùng là hiệu ứng động.
Điều này chứng tỏ, động lực tăng trưởng năng suất của Thanh Hóa đến từ việc cải thiện năng suất lao động của bản thân các ngành, chứ không phải do sự chuyển dịch lao động giữa các ngành.8 Nguồn gốc tăng trưởng năng suất Nguồn: NGTK tỉnh Thanh Hóa năm 2000- 2004, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011. Kết luận Từ những kết quả phân tích trên cho thấy, tỉnh Thanh Hóa vẫn đang còn là tỉnh nghèo và chậm phát triển với mức thu nhập bình quân đầu người thuộc những hạng cuối trong Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung cũng như trên cả nước; tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao gần gấp đôi so với trung bình cả nước và xếp thứ 2 trong vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; mức độ tập trung lao động ở khu vực 1 chiếm tới gần 60% (năm 2011), năng suất lao động thấp và chậm cải thiện. Đây là những trở ngại cần được cải thiện để tỉnh Thanh Hóa có thể phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 CHƯƠNG 3.
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TỈNH THANH HÓA 3.1 Khung phân tích năng lực cạnh tranh Vùng - Địa phương Theo Michael E.Porter (2008), năng lực cạnh tranh của một quốc gia được đo lường bằng năng suất sử dụng lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên. Năng suất là nhân tố quyết định quan trọng nhất của mức sống bền vững của một quốc gia, là nguyên nhân sâu xa của thu nhập bình quân đầu người. Một địa phương muốn phát triển bền vững phải dựa vào tăng trưởng năng suất bền vững, để đạt được điều này, địa phương cần liên tục cải thiện, nâng cấp mình cho phù hợp với quá trình phát triển của xã hội. Như vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương chính là nâng cao năng suất.
Theo lý thuyết về năng lực cạnh tranh quốc gia của Michael Porter, được điều chỉnh bởi Vũ Thành Tự Anh phù hợp với điều kiện vùng, địa phương của Việt Nam, các nhân tố nền tảng quyết định năng suất của địa phương được chia thành 3 nhóm: (i) các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, quy mô địa phương; (ii) năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương bao gồm hạ tầng văn hóa- xã hội- y tế- giáo dục và chính sách tài khóa, tín dụng, cơ cấu kinh tế của địa phương; (iii) năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp bao gồm môi trường kinh doanh và hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển cụm ngành, hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp.