CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại ngân hàng thương mại Cho đến nay đã có khá nhiều các bài viết đề cập đến khái niệm năng lực cạnh tranh, song vẫn chưa có sự thống nhất.
Ở góc độ vi mô, Domazet (2012) cho biết, năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp trong việc sản xuất sản phẩm một cách đồng nhất và có lợi nhuận nhằm thỏa mãn được các yêu cầu khắt khe của thị trường về chất lượng cũng như giá cả. Yap (2004) cho rằng, khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp liên quan chặt chẽ đến hiệu quả hoạt động trong dài hạn và lợi tức đầu tư cao hơn cho chủ sở hữu. Ở góc độ vĩ mô, theo Garelli (2006), năng lực cạnh tranh của một quốc gia là một lĩnh vực lý thuyết kinh tế, phân tích về thực trạng và các chính sách để hình thành khả năng duy trì và xây dựng môi trường bền vững của một quốc gia nhằm tạo ra nhiều giá trị hơn cho các cá nhân và chủ thể trong nước. Trong từ điển Cambridge, năng lực cạnh tranh là khả năng cạnh tranh thành công của các doanh nghiệp, quốc gia và các tổ chức khác.
Tóm lại, qua các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này có thể hiểu năng lực cạnh tranh là việc các doanh nghiệp cũng như các tổ chức khác có khả năng duy trì, tạo ra và phát triển các lợi thế hiện có để gia tăng thị phần, tăng lợi nhuận nhằm gia tăng giá trị cho chủ sở hữu. Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Giống như các doanh nghiệp khác, ngân hàng phải thường xuyên tiến hành các hoạt động đầu tư. Trong môi trường cạnh tranh, để kinh doanh đạt hiệu quả, yêu cầu đặt ra với mỗi ngân hàng phải liên tục có những sản phẩm dịch vụ mới phù hợp với nhu cầu ngày một cao và đa dạng của khách hàng, yêu cầu phải cải tiến chất lượng phục vụ, phải nâng cao năng lực quản trị điều hành,…Những điều đó chỉ có thể đạt được thông qua đầu tư.
Đó chính là những hoạt động đầu tư nhằm giúp ngân hàng có được năng lực cạnh tranh cao hơn. Ngân hàng tiến hành nhiều hoạt động đầu tư, nhưng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh phải tác động đến những nhân tố giúp cho ngân hàng đạt được những lợi thế cao hơn ngân hàng khác, chiến thắng trong việc chiếm lĩnh thị phần, doanh số, lợi nhuận. 3 Do đó, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh phải mang lại những kết quả là tiềm lực tài chính vững mạnh hơn, năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng hiệu quả hơn, năng lực công nghệ, năng lực quản trị điều hành, năng lực đội ngũ cán bộ,…được nâng cao hơn. Tùy vào từng giai đoạn, NHTM có các mục tiêu cạnh tranh khác nhau.
Ở giai đoạn thâm nhập thị trường, NHTM có xu hướng đạt mục tiêu gia tăng thị phần. Ở giai đoạn phát triển, NHTM thường hướng đến mục tiêu gia tăng lợi nhuận hoặc chiếm lĩnh thị phần (nắm giữ thị phần chủ chốt) hoặc hướng đến mục tiêu củng cố thương hiệu. Tùy thuộc vào mục tiêu từng giai đoạn, NHTM có thể sử dụng các công cụ cạnh tranh khác nhau, có thể là giá cả, kênh phân phối, chất lượng sản phẩm dịch vụ hoặc qua công cụ khuếch trương, quảng bá và ở các mức độ khác nhau, tính chất khác nhau. Ví dụ cùng là đầu tư cho hệ thống kênh phân phối nhưng tùy từng mục tiêu, tùy từng giai đoạn, ngân hàng có thể chỉ là đầu tư mở rộng mạng lưới nhưng cũng có thể ngân hàng không đầu tư mở rộng mà sẽ tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cấp cho hệ thống kênh phân phối trở nên hiện đại hơn, thuận tiện hơn, hiệu quả hơn.
Và như vậy, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thông qua kênh phân phối đã được cải thiện để giúp cho ngân hàng tiếp cận khách hàng tốt hơn, thâm nhập thị trường sâu hơn. Dựa trên mục đích mà hoạt động đầu tư hướng đến, có thể rút ra khái niệm về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại NHTM: Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại NHTM là việc ngân hàng sử dụng các nguồn lực ở hiện tại (tiền và các nguồn lực khác) để tiến hành các hoạt động nhằm liên tục tăng cường và cải thiện những lợi thế cạnh tranh của mình. Vai trò của đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại các NHTM Mỗi ngân hàng khi đi vào hoạt động, muốn tồn tại và phát triển phải tạo ra cho mình những lợi thế cạnh tranh nhất định. Để phản ứng lại, các ngân hàng khác cũng sẽ cố gắng tạo ra những lợi thế tương tự hoặc tốt hơn, đặc biệt trong điều kiện công nghệ luôn luôn có những bước phát triển mới.
Khi đó, nếu không có những hoạt động nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh, ngân hàng sẽ khó có thể tồn tại. Thứ nhất, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh có vai trò quan trọng với sự tồn tại của ngân hàng. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng sẽ bao gồm những nguồn lực và lợi thế mà ngân hàng đang nắm giữ. Những nguồn lực này bao gồm: Khả năng tài chính, công nghệ – kỹ thuật, chất lượng nhân sự, khả năng nghiên cứu marketing, danh tiếng của thương hiệu…Đây chính là các nguồn lực cho phép ngân hàng thực hiện được các hoạt động 4 kinh doanh.
Bất kể hoạt động nào của ngân hàng cũng phải huy động những nguồn lực này. Từ việc nghiên cứu, triển khai các sản phẩm/dịch vụ mới cho khách hàng. Để có thể tồn tại trên thị trường thì ngân hàng sẽ cần phải đáp ứng được điều cơ bản nhất là nhu cầu của khách hàng. Cho họ thấy được sự nỗ lực và phát triển không ngừng của ngân hàng trong thời đại ngày càng phát triển.
Và đây là lý do quan trọng nhất để khách hàng tin tưởng và sử dụng sản phẩm/dịch vụ của ngân hàng. Nhờ vậy, ngân hàng sẽ thu hút được nguồn vốn lớn, tăng trưởng quy mô và thu được lợi nhuận ngày càng cao. Thứ hai, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh giúp ngân hàng phát triển, đạt được những mục tiêu và tiến xa hơn. Theo thời gian, các ngân hàng chắc chắn sẽ phải phát triển và mở rộng quy mô của mình hơn.
Để tiến xa hơn trên thị trường thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều vô cùng cần thiết. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển. Với những ngân hàng đang tìm cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, thì ngân hàng đó có thể thâm nhập thị trường, mở rộng thị phần sâu hơn và rộng hơn một cách chủ động. Ngược lại với những ngân hàng đã và đang đứng vững được trên thị trường, thì sẽ có thể tìm kiếm các giải pháp tốt hơn để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, khi đầu tư nâng cao nâng cao năng lực cạnh tranh một cách đúng đắn và hiệu quả sẽ giúp ngân hàng đó vượt qua đối thủ và chiếm lĩnh thị trường. Thị trường kinh tế sẽ luôn biến đổi không ngừng nghỉ và ngân hàng sẽ chỉ nắm bắt được một phần nhỏ. Sẽ có thêm những sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ hoặc các đối thủ lớn hơn kìm hãm. Đồng thời, trong quá trình phát triển của mỗi ngân hàng thì việc chiếm đoạt thị phần của nhau là việc không thể tránh khỏi.
Vì vậy, ngân hàng cần phải có phương pháp để có thể cân bằng và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Từ đó, ngân hàng vượt qua đối thủ để nắm giữ thị phần nhiều hơn. Tiến hành mở rộng thêm thị phần, lôi kéo được nhiều khách hàng hơn từ phía đối thủ. Đặc trưng trong cạnh tranh của ngân hàng thương mại Thứ nhất, bên cạnh việc ganh đua nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh, cạnh tranh trong ngân hàng lại nằm trong sự hợp tác tương đối.
Các ngân hàng thương mại không thể hoạt động tách biệt nhau mà có sự liên quan chặt chẽ trong nhiều hoạt động: trên thị trường liên ngân hàng với hoạt động vay mượn, mua bán ngoại tệ, thanh toán…, hợp tác với nhau để cùng tạo thành một hệ thống cung cấp dịch vụ cho khách hàng mà trong đó mỗi ngân hàng đóng vai trò là một thành viên (ví dụ như hệ thống Banknet hay Smartlink 5 cung cấp dịch vụ thẻ và ngân hàng tự động), hợp tác với nhau để cùng thực hiện các chính sách điều tiết tiền tệ của Nhà nước,… Thứ hai, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại luôn luôn phải đảm bảo yêu cầu lành mạnh. Do đặc trưng của ngân hàng là kinh doanh trong lĩnh vực nhạy cảm và ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của nền kinh tế nên bất cứ sự cạnh tranh thiếu lành mạnh nào trong ngân hàng cũng có thể dẫn đến những rủi ro mang tính hệ thống và ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế xã hội. Cạnh tranh bằng lãi suất có thể làm dấy lên cuộc đua về lãi suất dẫn đến việc khó kiểm soát thị trường tài chính và làm sai lệch đến các chỉ tiêu vĩ mô, ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác, bất ổn kinh tế xã hội. Thứ ba, cạnh tranh trong ngân hàng diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng và tinh vi.
Bản chất các sản phẩm của ngân hàng là dịch vụ tài chính. Lợi ích của sản phẩm ngân hàng được đo bằng các hiệu quả tài chính mang lại cho khách hàng và mức độ hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Hiệu quả tài chính có thể tính toán được cụ thể bằng con số và tùy thuộc vào thế mạnh, tiềm lực, khả năng công nghệ, trình độ quản lý của mỗi ngân hàng mà hiệu quả tài chính mang lại cho khách hàng khác nhau. Còn chất lượng dịch vụ là một phạm trù trừu tượng và thể hiện dưới nhiều hình thức, được truyền tải qua rất nhiều phương tiện, công cụ.
Chính vì thế, các biện pháp cạnh tranh trong ngân hàng vô cùng đa dạng, phong phú và tinh vi. Cạnh tranh thô sơ bằng cắt giảm chi phí, giảm giá, thực sự không có nhiều ý nghĩa và hiệu quả, chỉ có tác dụng với một nhóm đối tượng khách hàng cụ thể và trong những giai đoạn nhất định. Lãi suất là một công cụ cạnh tranh nhạy cảm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính của sản phẩm nhưng chịu sự giám sát chặt chẽ của NHNN.