CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP BƯU ĐIỆN TỈNH HÀ GIANG 1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một hiện tượng vốn có của thị trường, nó xuất hiện và hình thành gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Bất kỳ doanh nghiệp nào trong khi tham gia vào thị trường đều phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình” Theo Michael Porter(1985, 1998): Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Từ những quan điểm trên, phạm trù cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế kinh tế( nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ người tiêu dùng, thương nhân,.) nhằm giành lấy những vị thế để tạo nên lợi thế thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng hay các điều kiện sản xuất thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích.2 Khái niệm năng lực Nguồn lực Nguồn lực là những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất của một tổ chức kinh doanh, bao gồm những yếu tố như: vốn, kĩ năng của người nhân công, độc quyền nhãn hiệu, tài chính, và năng lực quản lí. Hơn thế nữa nguồn lực còn bao gồm cả những yếu tổ cá nhân, xã hội, tập thể.
Không có sự khác biệt hoặc chuyên biệt hóa cho từng doanh nghiệp. Nếu đứng một mình thì nguồn lực không thể tạo nên lợi thế cạnh tranh. Năng lực Năng lực là khả năng liên kết các nguồn lực để cùng phục vụ cho một mục đích chung. Năng lực biểu thị sự liên kết giữa những nguồn lực hữu hình và vô hình riêng của mỗi tổ chức.
Luan van 8 Năng lực là sự tổ hợp các quá trình và kỹ năng mà doanh nghiệp phụ thuộc vào để đạt được các hoạt động chuyên biệt trong quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh Khái niệm Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu tuy vậy đến nay vẫn chưa có sự nhất trí thống nhất giữa các học giả, các nhà chuyên môn về khái niệm cũng như cách đo lường, phân tích. Dưới đây là một số khái niệm về năng lực cạnh tranh đáng chú ý: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những năng lực doanh nghiệp thực hiện đặc biệt tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh mà các đối thủ cạnh tranh không dễ dàng thích ứng hoặc sao chép. UNCTAD thuộc Liên hợp quốc cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: “Năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc, hoặc nó cũng có thể được định nghĩa là năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền đẹp, rẻ của doanh nghiệp, hoặc nó còn được định nghĩa là sức cạnh tranh bắt nguồn từ tỷ suất lợi nhuận”.
Hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh (Michael Porter, 1996). Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”. Tóm lại, một khái niệm NLCT của doanh nghiệp phù hợp nhất trong bối cảnh hiện tại có thể là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Quan trọng là, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tính tổng hợp, gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanh nghiệp(ngành) và từng doanh nghiệp. Luan van 9 Phân loại Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm hai lại năng lực, đó là: Năng lực cạnh tranh nguồn ( NLCT phi marketing) và năng lực cạnh tranh thị trường( NLCT marketing) Các NLCT nguồn( NLCT phi marketing) gồm: - Năng lực tài chính: Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì tài chính là yêu cầu đầu tiên, từ mua thành phẩm về để đầu tư cơ sở hạ tầng, trang trí, chi phí cho nhân công… tất cả đều cần đến tài chính. Đây là một trong những chỉ tiêu không thể thiếu trong các hoạt động kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Thông qua chỉ tiêu này công ty sẽ đánh giá được hoạt động kinh doanh nói chung của một doanh nghiệp và trog việc nâng cao vị thế cạnh tranh của DN trên thị trường.
- Năng lực quản trị lãnh đạo: Khi tham gia hoạt động kinh tế thị trường và nhất là trong thời đại kinh tế toàn cầu như hiện nay, doanh nghiệp cần có những vũ khí để tồn tại và phát triển trên thương trường, nơi mà sự cạnh tranh vốn không kém phần khốc liệt. Quản trị và lãnh đạo là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau nhưng lại có quan hệ mật thiết với nhau. Bất kỳ một tổ chức nào đều cần có bộ phận quản trị, nếu thiếu bộ phận này thì công việc sẽ không hoạt động hoặc không hữu hiệu. Việc thiếu hữu hiệu sẽ đưa đến những phí phạm về cả phương diện nhân lực và tài lực.
Vai trò của quản trị và lãnh đạo đồng thời là một tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của DN. - Năng lực nguồn nhân lực: Bên cạnh nguồn tài chính, nguồn nhân lực cũng là vấn đề không thể thiếu khi nói về hoạt động kinh doanh của bất kỳ DN nào. Trong DN thương mại và dịch vụ con người lại là yếu tố không thể thiếu khi đánh giá NLCT của DN đó. Đánh giá nguồn nhân lực thường qua các tiêu chí như : trình độ lực lượng lao động, số lượng lao động, năng suất công việc, khả năng hiện tại và tương lai của đội ngũ nhân sự.
- Quy mô kinh doanh: Một DN có quy mô lớn có thể thu được các khoản lợi tức tăng thêm nhờ sự tiết kiệm do việc sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn. Nói cách khác, lợi thế kinh tế theo quy mô bao gồm hiệu quả giảm chi phí do sản xuất đại trà các sản phẩm đã được tiêu chuẩn hoá, do giá chiết khấu với khối lượng lớn vật tư, nguyên phụ liệu ở đầu vào sản xuất hoặc do quảng cáo đại trà giúp hạ thấp chi phí Luan van 10 quảng cáo trên từng sản phẩm. Do đó, qui mô sản xuất là một tiêu chí rất quan trọng giúp DN nâng cao NLCT của mình. - Cơ sở vật chất kỹ thuật: Trình độ máy móc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của DN.
Một DN có hệ thống trang thiết bị máy móc, công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của DN nhất định sẽ được bảo toàn về chất lượng , thúc đẩy nhanh qua trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay về vốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá. - Hiệu suất R&D : Hiệu suất R&D là một chỉ số đáng tin cậy và chính xác nhất thể hiện năng lực R&D của DN. Hiệu suất R&D của DN càng cao càng chứng tỏ hoạt động R&D của DN càng hiệu quả và ngược lại. Hiệu suất R&D bao gồm những thành tựu trong việc triển khai các sản phẩm mới, công tác tổ chức nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, ngân quỹ dành cho R&D.
Hiệu suất R&D cao cho phép sản phẩm có được sức mạnh trong đổi mới công nghệ, có ưu thế vượt trội trong giới thiệu sản phẩm mới thành công, cải tiến và cập nhật liên tục các sản phẩm hữu hiệu. Hiệu suất R&D của sản phẩm gồm tiềm lực nghiên cứu và triển khai sản phẩm mới. Các NLCT thị trường ( NLCT marketing) gồm: - Thị phần thị trường: Thị phần được hiểu là phần thị trường mà DN chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường. Do đó thị phần của DN được xác định: Doanh thu của doanh nghiệp Thị phần của DN = Tổng doanh thu toàn ngành Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của DN càng rộng.
Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt động của DN có hiệu quả hay không bởi nếu DN có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho DN một vị trí ưu thế trên thị trường. Nếu DN có một phạm vi thị trường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng DN đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh. Bằng chỉ tiêu thị phần, DN có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành. - Chính sách sản phẩm: Là một trong bốn nhân tố quan trọng của Marketing – mix, mục tiêu chính sách sản phẩm chỉ là nâng cao khả năng bán sản phẩm và tạo điều kiện sinh lời khi tham gia bán.
Do vậy, chính sách sản phẩm bao gồm các yếu tố về chất lượng sản phẩm, cơ cấu chủng loại sản phẩm, kiểu dáng mẫu mã,…Yếu tố phải Luan van 11 nói đến đầu tiên đó là chất lượng sản phẩm, chất lượng là yếu tố cốt lõi và là linh hồn của sản phẩm, là thước đo biểu giá trị sử dụng của sản phẩm và là vũ khí cạnh tranh sắc bén trên thị trường. Do vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm cần phải xem xét cả hai khía cạnh trên theo một quy trình nhất định, đòi hỏi về thời gian, ngân sách và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội lực của công ty.