PHẦN MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Các công trình nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Phƣơng pháp nghiên cứu Đóng góp của luận văn Kết cấu luận văn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH SẢN PHẨM NƢỚC ĐÓNG CHAI 1. Một số vấn đề chung về cạnh tranh trong SXKD sản phẩm nƣớc đóng chai 1. Năng lực: Có nhiều cách tiếp cận cũng nhƣ định nghĩa khác nhau về năng lực: Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” hoặc là “phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” Theo Từ điển năng lực của Đại học Harvard thì năng lực, theo thuật ngữ chung nhất, là những thứ mà một ngƣời phải chứng minh có hiệu quả trong việc làm, vai trò, chức năng, công việc, hoặc nhiệm vụ. Định nghĩa này ám chỉ trực tiếp về tác nghiệp/ hành nghề khi diễn giải những thứ này bao gồm hành vi phù hợp với việc làm (những gì mà một ngƣời nói hoặc làm tạo ra kết quả bằng sự thực hiện tốt hay tồi), động cơ (một ngƣời cảm thấy thế nào về việc làm, về tổ chức hoặc vị trí địa lý), và kiến thức/kỹ năng kỹ thuật (những gì mà một ngƣời biết/chứng thực về sự kiện, công nghệ, nghề nghiệp, quy trình thủ tục, việc làm, tổ chức,.
Năng lực đƣợc xác định thông qua các nghiên cứu về việc làm và vai trò công việc.” Tác giả Đặng Thành Hƣng cho rằng, về mặt thực hiện, kỹ năng phản ánh năng lực làm, tri thức phản ánh năng lực nghĩ và thái độ phản ánh năng lực cảm nhận. Năng lực là “tổ hợp những hành động vật chất và tinh thần tƣơng ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những thuộc tính cá nhân (sinh học, tâm lý và giá trị xã hội) đƣợc thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động”. Trong định nghĩa này, tác giả đã đƣa vào yếu tố rất quan trọng làm rõ những thuộc tính cá nhân - đó là sinh học, tâm lý và giá trị xã hội. Nhƣ vậy, theo cách hiểu chung nhất, năng lực chính là những khả năng, những kĩ năng hay những điều kiện sẵn có để thực hiện các hoạt động.
Đối với doanh nghiệp, có thể hiểu khái niệm năng lực nhƣ sau: “Năng lực của doanh nghiệp là khả năng sử dụng các nguồn lực đã đƣợc kết hợp một cách có mục đích để đạt 6 đƣợc một trạng thái mục tiêu mong muốn”. Cạnh tranh Cạnh tranh đƣợc phát biểu là sự tranh đua nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những ngƣời, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động nhƣ nhau. Cạnh tranh theo cấp độ doanh nghiệp còn đƣợc hiểu là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực. Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh.
“Theo từ điển thƣơng mại Anh- Pháp - Việt thì vấn đề cạnh tranh lại đƣợc nói đến một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn: Cạnh tranh là tình trạng giành giật nhau về khách hàng và thị trƣờng. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng nói chung cạnh tranh có thể hiểu là sự đấu tranh của hai hay nhiều bên cùng tham gia vào một hoạt động với cùng một mục đích. Mục đích áy có thể là quyền hành, là vị thế có lợi cho mình trên các phƣơng diện.
Trong kinh tế thị trƣờng đó là sự dành giật về thị phần, quyền kiểm soát mua hoặc bán các loại sản phẩm. Là một phạm trù phức tạp cạnh tranh có liên quan đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh là một hiện tƣợng tất yếu xẩy ra đặc biệt là kinh tế thị trƣờng tƣ bản chủ nghĩa.” Cạnh tranh có tác dụng rất tích cực “thúc đẩy con ngƣời nỗ lực hơn, sáng tạo, tăng năng suất lao động, làm cho quá trình của cải của quốc gia tăng lên, cạnh tranh chủ yếu diễn ra thông qua thị trƣờng và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thị trƣờng và tự do cạnh tranh có thể tự điều tiết các quan hệ cung - cầu, sản lƣợng, phân công lao động, tạo sự cân bằng cung cầu xã hội mà không cần sự can thiệp của Nhà nƣớc”. “Có thể thấy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sự 7 phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia.
Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và tạo ra các phƣơng tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn và chất lƣợng cao hơn, từ đó nâng cao đƣợc đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Nhờ cạnh tranh đã thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng năng suất, tạo ra những thành tựu mới trên nhiều lĩnh vực. Lợi thế cạnh tranh Có hai cách tiếp cận về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp: Cách tiếp cận thứ nhất: Là cách tiếp cận dựa trên chuỗi giá trị Dựa trên quan điểm của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thì chuỗi giá trị của doanh nghiệp đƣợc mô phỏng nhƣ hình 1.1: Mô hình chuỗi giá trị của Micheal Porter (Nguồn: Micheal Porter 2016) “Theo Michael Porter, doanh nghiệp có thể xem nhƣ một chuỗi các hoạt động chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành đầu ra. Khách hàng sẽ đánh giá, giá trị các sản phẩm theo quan điểm của họ.
Nếu họ thoả mãn thì họ sẵn sàng trả với giá cao và nếu ngƣợc lại thì họ sẽ trả giá thấp hơn. Các hoạt động chuyển hoá này sẽ làm tăng giá trị của sản phẩm của doanh nghiệp. Ông gọi đây là các hoạt động tạo ra giá trị. Dựa trên quan điểm của Ông thì chuỗi giá trị của doanh nghiệp gồm hai loại hoạt động đó là các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ.
Các hoạt động chính là hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm. Các hoạt động hỗ trợ là những hoạt động tạo cơ sở và điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động chính. Các hoạt động này bao gồm các yếu tố, quá trình thuộc nền tảng chung của doanh nghiệp, phát triển công nghệ, quản trị nhân lực, mua sắm thiết bị phƣơng tiện phục vụ sản xuất. Doanh nghiệp muốn có lợi thế cạnh tranh thì phải hoạt 8 động tạo ra giá trị với chi phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh hoặc tạo sự khác biệt trong sản phẩm để tăng giá trị cho khách hàng.
Chênh lệch giữa giá trị mà doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng với chi phí để tạo ra giá trị đó gọi là biên lợi nhuận. Biên lợi nhuận càng lớn thì doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao vì nếu doanh nghiệp đặt giá sản phẩm ngang với giá của đối thủ cạnh tranh thì họ vẫn thu đƣợc lợi nhuận cao hơn. Ngay cả khi doanh nghiệp đặt giá thấp hơn thì việc thu đƣợc tỷ suất lợi nhuận ngang bằng và khi đó doanh nghiệp vẫn thu hút đƣợc khách hàng và gia tăng thị phần. Nếu doanh nghiệp chỉ tập trung cải thiện hiệu quả hoạt động nội bộ, tức là thực hiện các hoạt động tạo chi phí thấp hơn thì chƣa đủ tạo ra lợi thế cạnh tranh trong dài hạn.
Các đối thủ có thể bắt chƣớc cách thức hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp và khi đó doanh nghiệp sẽ mất đi lợi thế về chi phí thấp. Lợi thế cạnh tranh không xuất phát từ một vài hoạt động riêng lẻ mà phụ thuộc và là kết quả của sự tƣơng tác, phối hợp của các hoạt động trong chuỗi giá trị.” Cách tiếp cận thứ hai: Là cách tiếp cận dựa trên các nguồn lực của doanh nghiệp “Đây là cách tiếp cận xem xét nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên các nguồn lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Với cách tiếp cận này thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc đánh giá qua những nguồn lực mang tính độc đáo, khó bị sao chép và có giá trị của doanh nghiệp và doanh nghiệp phải khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó. Doanh nghiệp có thể chỉ có nguồn lực thông thƣờng nhƣng lại có khả năng đặc biệt mà các đối thủ khác không có để kết hợp thì những nguồn lực này cũng đƣợc đánh giá là nguồn lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong khi đó có những nguồn lực độc đáo nhƣng chỉ có khả năng thông thƣờng thì lợi thế cạnh tranh của nguồn lực đó cũng không đƣợc đánh giá cao và kém bền vững. Lợi thế cạnh tranh mạnh nhất nếu doanh nghiệp vừa có các nguồn lực độc đáo, khó sao chép, có giá trị, vừa có khả năng đặc biệt để khai thác nhằm tạo ra các dịch vụ có chất lƣợng tốt đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có thể bị mai một và mất đi nhanh nhƣng có một số lợi thế thì lại tồn tại tƣơng đối lâu dài. Doanh nghiệp có nguồn lực hữu hình dễ sao chép thì lợi thế đó sẽ nhất thời vì các doanh nghiệp khác có thể sao chép đƣợc.
Nếu doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa vào những nguồn 9 lực vô hình và dựa vào yếu tố độc đáo, lợi thế có xu hƣớng lâu bền hơn vì đối thủ khó sao chép.” Để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì nên kết hợp cả hai cách tiếp cận dựa vào chuỗi giá trị và dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp 1. Năng lực cạnh tranh Trong cạnh tranh sẽ có ngƣời có khả năng cạnh tranh mạnh, ngƣời có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu, khả năng cạnh tranh này gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh.