Chương 1 đưa ra bối cảnh hình thành luận văn, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết, khung phân tích của nghiên cứu cùng những bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Chương 3 thể hiện nội dung phân tích năng lực cạnh tranh hiện tại của cụm ngành vi mạch bán dẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 4 trình bày kết luận và các khuyến nghị chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành vi mạch bán dẫn của thành phố trong tương lai, và những hạn chế của đề tài.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHUNG PHÂN TÍCH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý thuyết Michael Porter là học giả có đóng góp nhiều nhất trong việc phát triển khái niệm cụm ngành và đưa ra mô hình kim cương dùng cho phân tích năng lực cạnh tranh cụm ngành. Theo đó thì cụm ngành là “sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính liên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại …) trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau”10. Khái niệm này mang đến một cách tiếp cận mới về năng lực cạnh tranh, tạo ra phương pháp tư duy mới về cách phối hợp, xây dựng và nâng cao năng lực cạnh tranh của một quốc gia, một khu vực hay một địa phương thông qua việc gia tăng năng suất và hiệu quả hoạt động, kích thích và thúc đẩy đổi mới và tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các doanh nghiệp mới. Phạm vi địa lý của một cụm ngành có thể là một thành phố, một vùng, một quốc gia hay thậm chí là một nhóm các quốc gia lân cận.
Cấu trúc cụm ngành rất đa dạng, tùy thuộc vào chiều sâu và độ phức tạp của nó. Một cụm ngành điển hình thường bao gồm các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng, các doanh nghiệp ở thượng nguồn và hạ nguồn, các doanh nghiệp cung ứng chuyên biệt, các đơn vị cung cấp dịch vụ, các ngành liên quan (sản xuất, công nghệ, quan hệ khách hàng), các thể chế hỗ trợ (tài chính, giáo dục, nghiên cứu, cơ sở hạ tầng), … Một cụm ngành có thể được hình thành và phát triển nhờ vào (i) những điều kiện tự nhiên và sự có sẵn của các nhân tố sản xuất, hay (ii) những điều kiện về nhu cầu, hay (iii) một hoặc một số doanh nghiệp chủ chốt, hay (iv) sự thành công của các cụm ngành đã hình thành từ trước, hay (v) sự đầu tư của nhà nước. Sự phát triển của cụm ngành có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế vì giúp tăng cường cạnh tranh, đẩy mạnh hợp tác, tạo hiệu ứng cộng hưởng và tác động lan tỏa để đưa đến kết quả cuối cùng là tăng năng suất, 10 Vũ Thành Tự Anh (2013) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đổi mới, thương mại hóa và khởi nghiệp. Tuy nhiên, để cạnh tranh thành công thì các cụm ngành phải dựa vào một hay một số lợi thế đặc thù tương ứng với từng hoàn cảnh cụ thể.
Nhà nước có thể sử dụng cách tiếp cận cụm ngành để thực hiện các chiến lược và mục tiêu của mình, nhưng nếu can thiệp thái quá thì có thể dẫn đến thất bại của nhà nước vì sự hình thành và phát triển của cụm ngành cũng tuân theo quy luật nhất định. Ngày nay, sự phát triển của tất cả các cụm ngành đều phụ thuộc vào sự trỗi dậy của các doanh nghiệp then chốt, từ đó thu hút tiếp các doanh nghiệp cạnh tranh và các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Khi đã đạt được hiệu quả theo quy mô thì các tác động tương hỗ giữa các thành phần trong cụm ngành sẽ giúp duy trì sự phát triển của cụm ngành.2 Khung phân tích của nghiên cứu Mô hình kim cương phản ánh quan niệm của Michael Porter về những lợi thế cạnh tranh có tính địa phương, bao gồm bốn nhân tố cụ thể như sau: Những điều kiện nhân tố đầu vào, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên con người, tài nguyên vốn, cơ sở hạ tầng khoa học, cơ sở hạ tầng thông tin, … Điều kiện về cơ sở hạ tầng khoa học có vai trò quan trọng vì nếu như một cụm ngành có được nguồn nhân lực trình độ cao nhưng lại không có cơ sở hạ tầng khoa học tốt thì nguồn nhân lực này sẽ không thể khai thác cơ sở hạ tầng khoa học để phát huy năng lực của mình, từ đó, nguồn nhân lực này có thể sẽ di chuyển sang nơi khác. Những điều kiện cầu, bao gồm nhu cầu thị trường nội địa, khách hàng nội địa sành sỏi và đòi hỏi khắt khe, và nhu cầu nội địa ở những phân khúc chuyên biệt hóa.
Nhu cầu nội địa giúp ích nhiều cho sự tồn tại của những cụm ngành mới hình thành vì việc vươn ra thị trường thế giới thông qua cạnh tranh của một cụm ngành còn non trẻ là điều không hề dễ dàng. Những đòi hỏi khắt khe từ khách hàng nội địa là động lực cho sự nâng cấp và cải tiến của các doanh nghiệp trong cụm ngành, qua đó cũng thúc đẩy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này. Môi trường chính sách giúp phát huy chiến lược kinh doanh và cạnh tranh, bao gồm môi trường nội địa khuyến khích đầu tư, và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các đối thủ tại địa phương. Một địa phương nếu minh bạch và thông thoáng về các quy định, thủ tục đầu tư, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 và tồn tại một cụm ngành có thị trường tiềm năng thì sẽ dễ thu hút các doanh nghiệp đến để đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh trong cụm ngành đó, từ đó gia tăng sự cạnh tranh giữa các đối thủ trong cụm ngành và giúp phát triển cụm ngành.
Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan, bao gồm sự hiện hữu của nhà cung cấp nội địa có năng lực, và sự hiện hữu của các ngành công nghiệp cạnh tranh có liên quan. Các nhà cung ứng có năng lực tạo thêm sự tin tưởng trong quyết định đầu tư của các nhà đầu tư, giúp các nhà đầu tư giảm chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu, giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực sản xuất nhờ tiết kiệm được thời gian nhập khẩu nguyên vật liệu. Các ngành công nghiệp cạnh tranh có liên quan cũng là động lực giúp cụm ngành phát triển, ví dụ như sản phẩm của cụm ngành chính là đầu vào của các ngành công nghiệp khác.1 Mô hình kim cương của Michael Porter Môi trường chính sách giúp phát huy chiến lược kinh doanh và cạnh tranh Môi trường nội địa khuyến khích các dạng đầu tư và nâng Những điều kiện cấp bền vững Những điều nhân tố đầu vào Cạnh tranh quyết liệt giữa kiện cầu các đối thủ tại địa phương Số lượng và chi phí của nhân Những khách hàng nội địa tố sành sỏi và đòi hỏi khắt khe. Các ngành công nghiệp Nhu cầu của khách hàng Tài nguyên thiên nhiên hỗ trợ và có liên quan nội địa dự báo nhu cầu ở Tài nguyên con người những nơi khác Tài nguyên vốn Nhu cầu nội địa bất thường Cơ sở hạ tầng vật chất Sự hiện hữu của các nhà ở những phân khúc chuyên Cơ sở hạ tầng quản lý cung cấp nội địa có năng lực biệt hóa có thể được đáp ứng Cơ sở hạ tầng thông tin Sự hiện hữu của ngành trên toàn cầu Cơ sở hạ tầng khoa học công nghiệp cạnh tranh có liên quan Nguồn: Porter (2008) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Các bài học kinh nghiệm phát triển ngành vi mạch 2.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc Năm 2004, PricewaterhouseCoopers đã thực hiện loạt báo cáo tình huống “China’s Impact on the Semiconductor Industry” để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của khách hàng của họ đối với sự phát triển vượt bậc của ngành bán dẫn Trung Quốc.
Trải qua gần 10 năm kể từ báo cáo đầu tiên của PricewaterhouseCoopers, trong báo cáo cập nhật vào năm 2012 có tên “Another year of strong growth China’s Impact on the Semiconductor Industry 2012 update”, Trung Quốc vẫn gây ấn tượng khi thị trường vi mạch bán dẫn của nước này đạt mức tăng trưởng 14,6% trong năm 2011 và chiếm 47% thị trường toàn cầu, dù đây đang là thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu (xem Hình 2.2 tại Phụ lục 1). Trung Quốc đã phát triển ngành vi mạch bán dẫn của họ một cách nhanh chóng và đạt được những thành công ấn tượng thế giới nhờ vào ba yếu tố sau: Một là, chính sách thu hút đầu tư của Trung Quốc dựa vào lợi thế giá thuê đất thấp và nhân công giá rẻ, song song đó, họ cũng đầu tư nhiều cho cơ sở hạ tầng cứng. Kết quả là Trung Quốc thu hút được các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực vi mạch như Intel, Samsung, Toshiba, TI, Hynix, ST, Freescale và NXP/Philip …, nhờ đó tiếp tục có được sự hiện diện của các công ty là nhà cung cấp hàng đầu cho các công ty đa quốc này. Hai là, quy mô thị trường nội địa về sản phẩm điện tử của Trung Quốc là rất lớn với lợi thế về dân số, đặc biệt là cộng thêm nhu cầu từ thị trường toàn cầu khi có đến 63% sản phẩm vi mạch bán dẫn của Trung Quốc được sử dụng trong các sản phẩm điện tử hoàn chỉnh và tiêu thụ ở các quốc gia khác, tốc độ tăng trưởng thị trường bán dẫn Trung Quốc hầu như luôn cao hơn thế giới (xem Hình 2.3 tại Phụ lục 1).
Ngoài ra, các công ty đa quốc gia cũng thấy được cơ hội phát triển từ nhu cầu thị trường nội địa về sản phẩm điện tử ở Trung Quốc, đặc biệt là sản phẩm điện thoại thông minh và các sản phẩm giải trí cầm tay như máy tính bảng, máy nghe nhạc (nhu cầu của hai dòng sản phẩm này trong năm 2011 ở Trung Quốc lần lượt là 6 tỷ USD và 3,6 tỷ USD). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Ba là, chiến lược phát triển ngành vi mạch của Trung Quốc luôn có kế hoạch rõ ràng và cụ thể, các kế hoạch của từng giai đoạn đa phần phù hợp với năng lực tương ứng của họ tại thời điểm đó, vì vậy có tính khả thi cao.