phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng : Chƣơng 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thƣơng Mại. Chƣơng 2 : Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3 : Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phẩn SHB. Chƣơng 4 : Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần SHB. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, vấn đề nâng cao năng lựa cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập.
Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, khả năng phát triển nguồn nhân lực, khả năng quản lí và cơ cấu tổ chức nhƣng quan trọng hơn cả là năng lực hoạt động đặc biệt là đa dạng hóa sản phẩm; đồng thời dựa trên tình hình thực tế và đối thủ cạnh tranh để đƣa ra những kiến nghị khoa học các định hƣớng và giải pháp đối với vấn đề này. Nhiều nội dung đã khẳng định về lý thuyết khoa học mang tính tổng quan giải quyết những vấn đề ở tầm vĩ mô, đặc biệt đối với phát triển năng lực hoạt động và khả năng ứng dụng khoa học công nghệ, đồng thời cũng cho thấy những vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh ngành ngân hàng có tính đặc thù , còn nhiều khoảng trống cần lý giải kịp thời. Các công trình cũng đã đề cập và lý giải những vấn đề về nâng cao năng lực cạnh tranh trong các ngân hang thƣơng mại đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế và đổi mới sâu rộng của nền kinh tế trong nƣớc. Các công trình cũng đã phần nào cập nhật kiến thức hiện đại, tiếp thu các phƣơng pháp kinh tế và quản lý tiên tiến.
Các công trình nghiên cứu dưới dạng các báo cáo khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí Có khá nhiều báo cáo khoa học, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến những vấn đề liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại. - Bài viết ― Cơ sở lý thuyết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trƣớc cơ hội thách thức gia nhập WTO‖ của Ths. Lê Chí Hòa đăng trên Management of business association ngày 4/8/2008 trình bày một cách chi tiết và 4 thực tế những vấn đề của cạnh tranh về lý thuyết cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh…là cơ sở tham khảo để tôi hoàn thiện đề tài này. - Bài viết của Đặng Hữu Mẫn, trƣờng đại học kinh tế, đại học Đà Nẵng đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ, đại học Đà Nẵng số 5(40)-2010: ― Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam‖.
Nội dung chủ yếu nhằm mục tiêu đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam dựa trên việc phân tích các yếu tố cạnh tranh, nhƣ: năng lực tài chính, chất lƣợng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, thị phần, hệ thống kênh phân phối, phát triển sản phẩm mới và công tác xây dựng và quảng bá thƣơng hiệu. Từ đó, bài viết trình bày một số kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM nội địa trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết đối với Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) về mở cửa hoàn toàn thị trƣờng dịch vụ ngân hàng. - Bài viết so sánh thực trạng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam về năng lực tài chính, năng lực thị phần, năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh về khoa học công nghệ, năng lực cạnh tranh về hệ thống kênh phân phối, năng lực cạnh tranh về mở rộng và phát triển dịch vụ, năng lực cạnh tranh về thƣơng hiệu qua đó có những cái nhìn tổng quan đối với các ngân hàng và là cơ sở so sánh với các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại từ đó tác giả đƣa ra các giải pháp và kiến nghị. Trong đó tác giả có đề xuất đến giải pháp mua lại và sáp nhập (M&As) đây là vấn đề đang tốn nhiều giấy mực của các chuyên gia hiện nay.
Bên cạnh đó tác giả còn kiến nghị ngân hàng nhà nƣớc nên xem xét lại Thông tƣ số 13/2010/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc ban hành ngày 20/5/2010, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2010 bởi vì một vài điều trong Thông tƣ này là khá bất cập, và do đó có thể làm giảm năng lực cạnh tranh (xét về phƣơng diện vốn) của các NHTM. Chẳng hạn, Thông tƣ 13 quy định, nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nƣớc, Bảo hiểm Xã hội và các tổ chức khác. Quy định này là không hợp lý, vì tiền gửi không kỳ hạn của những đối tƣợng trên thƣờng chiếm tỷ lệ từ 15% - 20% trong tổng nguồn vốn huy động của các tổ 5 chức tín dụng. Điều này sẽ làm cho phần nguồn vốn để đảm bảo khả năng thanh toán có thể lên đến 35% trên tổng nguồn vốn huy động, và vì thế tỷ lệ này là quá cao, cản trở mạnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM; từ đó làm giảm năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Đây là điểm cũng đáng đƣợc lƣu ý. - Bài viết ― Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội sau khi chuyển đổi từ ngân hàng nông thôn lên đô thị‖ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngọc đăng trên website: http://www.org/view_news. ngày 6/4/2009 trong đó tác giả trình bày ma trận Swot đối với ngân hàng nông thôn lên đô thị, bên cạnh đó rút ra bài học kinh nghiệm cho ngân hàng trong và ngoài nƣớc. Tác giả chỉ ra đƣợc rằng: từ những điểm giống nhau giữa các ngân hàng thƣơng mại nên đã tạo ra một làn sóng cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Ngân hàng nào cũng phải tạo ra nhiều dịch vụ sản phẩm mới và nâng cao chất lƣợng dịch vụ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để một mặt gìn giữ khách hàng, mặt khác nâng cao sự chú ý về những tiện ích mới của sản phẩm và dịch vụ với mục đích thu hút thêm những khách hàng mới đến ủng hộ và giao dịch. Mục tiêu chính của đề tài nói nên sự cạnh tranh theo qui luật thị trƣờng của ngành ngân hàng. - Bài viết: ― Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế‖ của tác giả Nguyễn Thanh Phong đăng trên thông tin pháp luật dân sự ngày 10/4/2010 tác giả chỉ ra ―Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng mà do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm cũng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vƣợt qua những biến động bất lợi của môi trƣờng kinh doanh‖. Năng lực cạnh tranh của NHTM đƣợc đánh giá qua các yếu tố: năng lực tài chính; năng lực công nghệ; nguồn nhân lực; năng lực quản trị điều hành; mạng lƣới hoạt động; mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; …trong đó, năng lực tài chính và năng lực công nghệ đƣợc xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM.
Hiện nay, các NHTM rất quan tâm đến việc đầu tƣ đổi mới công nghệ để nâng cao chất lƣợng dịch vụ cung ứng cho khách hàng, nhƣng vẫn còn nhiều bất cập: Quy mô vốn của NHTM nhỏ; chi phí đầu tƣ hiện đại hóa công nghệ cao; khả năng 6 ứng dụng công nghệ tiên tiến của nhân viên ngân hàng còn hạn chế nên dẫn đến lãng phí, khai thác không hết tính năng của công nghệ mới. Điển hình là hệ thống giao dịch tự động – ATM, sau một thời gian triển khai thực hiện vẫn chƣa hết những bất cập, chƣa có sự kết nối trong toàn hệ thống ngân hàng để có thể giảm chi phí đầu tƣ và đảm bảo hiệu quả giao dịch cho khách hàng. Việc NHNN công bố chính thức kết nối hai liên minh thẻ lớn ở VN là Smartlink và Banknetvn, mở đƣờng cho việc hình thành một mạng thanh toán điện tử thống nhất trên toàn quốc nhƣng cũng chỉ mới dừng ở kết nối công nghệ nên việc cung ứng dịch vụ ngân hàng vẫn chƣa đạt hiệu quả cao hơn. Việc triển khai hệ thống Core banking tại các NHTMVN đƣợc xem là điểm nhấn cho đầu tƣ công nghệ, nhƣng khi triển khai thực hiện thì vẫn chƣa có sự đồng bộ trong toàn hệ thống.
Hiện nay đã có 44 NHTM trong nƣớc triển khai Core banking, nhƣng có quá nhiều phần mềm đƣợc sử dụng nhƣ : Siba; Bank 2000; SmartBank; Symbol System; Teminos; Iflex; Huyndai; Sylverlake; TCBS (the complex banking solution – giải pháp ngân hàng phức hợp), quy mô đầu tƣ lại khác nhau giữa các ngân hàng nên sự liên kết với nhau còn hạn chế. - Về giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng thƣơng mại có bài viết: ― Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thƣơng mại‖ tác giả: PV Phan Quốc Thịnh đăng trên báo điện tử văn hóa doanh nhân. Tác giả chỉ ra có 3 nhóm giải pháp chủ yếu trong đó chú trọng việc xây dựng chiến lƣợc cung cấp dịch vụ tối ƣu nhất cho khách hàng. Bên cạnh đó, các Ngân hàng cần quan tâm đặc biệt đến nguồn nhân lực, đẩy mạnh xây dựng thƣơng hiệu, tạo lòng tin bền vững với khách hàng.
Cụ thể, các ngân hàng cần tạo đƣợc ―lối đi‖ cho dịch vụ khách hàng. Chất lƣợng và dịch vụ chính là những yếu tố không thể tách rời nhau. Các nhân viên cần phải xác định chiến lƣợc dịch vụ khách hàng trên cơ sở toàn diện, chứ không phải là một mặt nào đó, nói một cách chính xác hơn, chiến lƣợc dịch vụ khách hàng bao gồm tất cả mọi hoạt động của ngân hàng có thể ảnh hƣởng tới khách hàng nhƣ: hình tƣợng, bán hàng, địa điểm, hiệu quả, thời gian biểu, tiêu chuẩn giá trị, việc ủng hộ khách hàng, kỹ năng quan hệ giữa nhân viên ngân hàng 7 và khách hàng. Nó bao gồm hệ thống các yếu tố: bán hàng, lƣu trình nghiệp vụ, hợp tác tập thể, việc giao lƣu, kết cấu của ngân hàng, sự cạnh tranh và tri thức quản lý.
Bên cạnh đó chuyên môn hóa giúp nâng cao sức cạnh tranh .