phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,. Nội dung của luận văn gồm 3 chương : Chƣơng 1: Tổng quan về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Nam Á. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Nam Á.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Cạnh tranh Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội, có rất nhiều lý thuyết về “cạnh tranh” ra đời. Theo kinh tế chính trị Mác - Lênin: “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh” [Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin, 2002, trang 65]. Theo Từ điển Bách Khoa của Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.Porter - người được coi là cha đẻ của lý thuyết cạnh tranh hiện đại [Dương Ngọc Dũng, 2009, trang 7], cho rằng: “Để cạnh tranh thành công các doanh nghiệp phải xây dựng được một lợi thế cạnh tranh bền vững.
Lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là công ty phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được”. Như vậy có thể nói, Cạnh tranh là quy luật tất yếu, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải bằng mọi biện pháp khác nhau để sử dụng tối đa các nguồn lực mà mình có để vượt lên trên đối thủ cạnh tranh cùng loại để khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là điều không thể thiếu đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
Được sử dụng rất rộng rãi, nhưng khái niệm “Năng lực cạnh tranh” vẫn còn gây nhiều tranh cãi và chưa được hiểu một cách thống nhất. Theo Từ điển Bách Khoa toàn thư của Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường”.TS Nguyễn Thị Quy [2005, trang 22] thì: “Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng là khả năng NH đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng; đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của môi trường kinh doanh”. Theo Michael Porter, giáo sư của trường kinh doanh Harvard, trong tác phẩm “Chiến lược cạnh tranh”, ông cho rằng “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn” Bên cạnh đó, quan niệm của ông còn gắn liền năng lực cạnh tranh với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng sử dụng có hiệu quả thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thƣơng mại Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là một doanh loại hình doanh nghiệp đặc biệt – kinh doanh trong lĩnh vực Tài chính tiền tệ, vì thế MHTM cũng tồn tại vì mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Chính vì vậy, các NHTM cũng không ngừng đổi mới, tạo ra các sản phẩm mới lạ, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng thị phần để cạnh tranh lại các NH bạn và đạt được lợi nhuận cao nhất cho NH. Do đó, năng lực cạnh tranh của NHTM chính là khả năng mà do chính NH tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần; gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của MHTM Theo Michael Porter, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cần dựa vào: (1) Sản phẩm - vị thế của sản phẩm ở mỗi phân đoạn thị trường; (2) Phân phối - Mức độ bao phủ và chất lượng của các kênh phân phối; (3) Marketing và bán hàng - Kỹ năng nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm mới, dịch vụ mới, kỹ năng của lực lượng bán hàng; (4) Hoạt động - Vị trí chi phí sản xuất, kỹ năng về tăng công suất, kiểm soát chất lượng,.; (5) Nghiên cứu và công nghệ; (6) Tổng chi phí; (7) Sức mạnh tài chính - Khả năng huy động vốn; (8) Tổ chức - Sự thống nhất của các giá trị và sự rõ ràng về mục tiêu, tôn chỉ trong tổ chức; (9) Khả năng quản lý tổng quát - Phẩm chất lãnh đạo của tổng giám đốc; khả năng điều phối những chức năng cụ thể. Victor Smith (2002) thì đưa ra rằng để có thể cạnh tranh các NH cần phát triển 5 loại năng lực sau: (1) Nhãn hiệu - Phát triển nhãn hiệu để làm tăng giá trị của các NH trên thị trường, tăng niềm tin và sự thỏa mãn khách hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 để tạo ra sự khác biệt giữa NH và đối thủ cạnh tranh; (2) Sản phẩm - Phải thỏa mãn được một nhu cầu nào đó của khách hàng; (3) Dịch vụ - Dịch vụ phải làm hài lòng khách hàng, gồm có giao tiếp khách hàng và thực hiện giao dịch; (4) Vốn trí tuệ - Gồm có nguồn nhân lực và các kỹ năng; (5) Chi phí và hạ tầng - Tổ chức hệ thống quản trị rủi ro, quản trị chi phí.
Tạp chí The Asian Banker đánh giá “Những Ngân hàng bán lẻ xuất sắc” dựa trên các tiêu chí sau: Giá trị thương hiệu, Hiệu quả tài chính, Tính bền vững của nguồn thu, Tính khả thi về chiến lược bán lẻ, Năng lực bán hàng, Năng lực quản lý rủi ro, Quy trình vận hành và công nghệ thông tin, Khả năng tạo sản phẩm, Khả năng thâm nhập thị trường, Đầu tư vào nguồn nhân lực. Qua tham khảo các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM, nhìn chung, năng lực cạnh tranh của NHTM được đánh giá qua các yếu tố: (1) Năng lực tài chính; (2) Khả năng ứng dụng công nghệ; (3) Nguồn nhân lực; (4) Năng lực quản lý và điều hành NH; (5) Mạng lưới hoạt động; (6) Mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh; (7) Uy tín thương hiệu.1 Năng lực tài chính Năng lực tài chính là thước đo sức mạnh của một NH tại một thời điểm nhất định. Năng lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu: 1. Vốn chủ sở hữu và mức độ an toàn vốn Tiềm lực vốn của NHTM được đánh giá cao hay thấp là phụ thuộc vào quy mô VCSH và hệ số an toàn vốn.
VCSH hay vốn tự có của NH là vốn thuộc quyền sở hữu của NH, do chủ sở hữu của NH góp vào khi thành lập NH và được bổ sung trong quá trình hoạt động của NH từ vốn góp thêm của chủ sở hữu và từ lợi nhuận NH. VCSH là vốn không phải hoàn trả trong quá trình hoạt động nên VCSH là thành phần góp vốn có tính ổn định và thông thường được sử dụng cho mục đích dài hạn. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ NH, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Nguồn vốn hình thành ban đầu: Đây là nguồn vốn hình thành khi NH được thành lập, còn được gọi là vốn điều lệ.
Tùy theo tính chất của mỗi NH mà nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. - Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: Trong quá trình hoạt động, NH gia tăng VCSH theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện có thể. Nguồn từ lợi nhuận không chia: lợi nhuận sau thuế sau khi đã bù đắp các khoản chi phí đặc biệt của NH, thường được chia thành hai phần: một phần để chi trả cổ tức cho các cổ đông, phần còn lại bổ sung vào VCSH – gọi là lợi nhuận giữ lại. Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn của chủ sở hữu do NHNN Việt Nam qui định… - Các quỹ Trong quá trình hoạt động, các NH tiến hành trích lập các quỹ dự trữ để đảm bảo hoạt động và đề phòng rủi ro.