Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM Chương 3. Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Chương 4.
Phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5. Kết luận và khuyến nghị 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 2. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của NHTM 2. Khái niệm năng lực cạnh tranh Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có nhiều những khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại như: Theo M.Porter (1985, 1998) thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt lợi nhuận cao của doanh nghiệp.
Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, năng lực cạnh tranh là quá trình sử dụng các tài sản, nguồn lực mà ngân hàng có thông qua khả năng của đội ngũ quản trị để xây dựng, cấu trúc, phối hợp, chúng nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho ngân hàng và đạt mục tiêu đề ra. Theo Nguyễn Thị Quy (2008), “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Với khái niệm này tác giá đang đề cập đến sức mạnh nội sinh của một NHTM và mối quan hệ của nó với sự phát triển của hệ thống ngân hàng trên cơ sở phát triển hoạt động dựa trên nền tảng vốn có nhằm đạt được tối ưu hóa lợi ích mang lại. Ngoài ra, khái niệm trên đang khích lệ sự linh động trong việc áp dụng chiến lược cạnh tranh của NHTM khi phải nhanh chóng thích nghi và phát huy những lợi thế trong sự thay đổi của môi trường kinh doanh để làm nền tảng hoạch định các chính sách và phát triển những lợi thế cạnh tranh sẵn có của mình.
Theo Nguyễn Văn Thụy (2015): “Khả năng cạnh tranh của một NHTM là khả năng (năng lực) mà ngân hàng có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh thông qua việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà ngân hàng đề ra”. Theo Hoàng Nguyên Khai (2014), “Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng kiểm soát các điều kiện kinh doanh thuận lợi của ngân hàng so với NHTM và tổ chức tài chính khác trong một môi trường nhất định nhằm thu được lợi nhuận tối đa”. Định nghĩa cho thấy việc nắm 12 chắc các lợi thế cạnh tranh phát huy từ bên trong sẽ giúp cho các nhà quản trị sẽ dễ dàng đưa ra các chính sách phát triển phù hợp với khả năng hiện tại. Từ đó, sẽ có được những sức mạnh trong những trường hợp cụ thể để đẩy mạnh lợi thế cạnh tranh và thu được lợi nhuận tối đa cho tổ chức.
Qua đó cho thấy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM cần thiết phải phối hợp nhuần nhuyễn các lợi thế từ bên trong và tận dụng các lợi thế có được bên ngoài. Việc phát huy các lợi thế phải đồng thời với việc đầu tư, liên tục làm mới, khắc phục các hạn chế, từng bước hoàn thiện bên trong nội tại của ngân hàng. Các diễn biến hoạt động phải diễn ra liên tục, được thực hiện một cách hợp lý để tạo nên một nền tảng cạnh tranh một cách bền vững. Từ đó, tác giả đưa ra quan điểm năng lực cạnh tranh của ngân hàng là:”Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng sử dụng các nền tảng kinh doanh của Ngân hàng để cung ứng sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh nhằm thu được lợi nhuận tối đa”.
Tuy nhiên, do hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ và các sản phẩm tài chính nên các tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh sẽ có sự khác biệt nhất định. Trong đó, các hệ thống lý thuyết về cạnh tranh sẽ là trục trung tâm để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của NHTM. Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh Có nhiều cách tiếp cận về năng lực cạnh tranh, những cách tiếp cận này có thể chia thành hai hướng chính: Tiếp cận dựa trên nguồn lực nội tại của doanh nghiệp và tiếp cận dựa trên định hướng thị trường.1 Năng lực cạnh tranh tiếp cận từ nguồn lực nội tại của doanh nghiệp (1) Tiếp cận năng lực cạnh tranh theo trường phái kinh tế học Mô hình kinh tế học tổ chức (Industrial Organization economics - IO) được Porter (1980) khái quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành, vận hành hay chiến lược của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh của ngành, còn gọi là mô hình SCP (Structure -> Conduct -> Performance). Điểm then chốt của mô hình này là hiệu quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu ngành mà các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau.
Cơ cấu ngành quyết định hành vi – chiến lược kinh doanh – của doanh nghiệp và điều này dẫn đến hiệu quả kinh doanh của ngành (Barney, 1991; Porter, 1980). Về cơ bản, phát triển một chiến lược cạnh tranh là phát triển một công thức cơ bản về cách doanh nghiệp cạnh tranh, mục tiêu đề ra và những chính sách cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó. Mô hình SCP – được củng cố bởi lý thuyết cạnh tranh nhóm rất hữu ích trong việc hình thành chiến lược và đánh giá bản chất cạnh 13 tranh trong ngành. Mô hình này cũng giúp chúng ta phân tích hiệu quả kinh doanh của ngành (các doanh nghiệp trong ngành) và nhận diện tiềm năng của từng ngành kinh doanh (các ngành khác nhau có hiệu quả kinh doanh cũng khác nhau).
Cạnh tranh độc quyền (Chamberlin, 1933) tập trung vào sự khác biệt của sản phẩm và dịch vụ cung ứng trên thị trường. Mô hình cạnh tranh kinh tế học tổ chức và mô hình cạnh tranh độc quyền đều chú trọng đến việc giải thích chiến lược hoạt động của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh trong hoạt động cạnh tranh. Kinh tế học Chamberlin bắt đầu thông qua việc chú trọng đến các lợi thế của doanh nghiệp và tiếp theo là theo dõi tác động của các lợi thế này vào chiến lược và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, kinh tế học tổ chức và kinh tế độc quyền giải thích sự cạnh tranh trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả định doanh nghiệp có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực.
Do vậy, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, thị phần, quy mô hoạt động. đã không còn là lợi thế của doanh nghiệp. Mặt khác, đối tượng phân tích của kinh tế học tổ chức và cạnh tranh độc quyền đều hướng tới các ngành kinh doanh với giả định là các doanh nghiệp trong cùng ngành có điều kiện về tài sản, nguồn lực đồng nhất. Đây là hạn chế lớn nhất trong việc giải thích lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay.
(2) Tiếp cận dựa trên nguồn lực và năng lực cạnh tranh Quan điểm năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực (Resoure-Based View - RBV) và năng lực cạnh tranh dựa trên năng lực (Competence-Based view - CBV) của các doanh nghiệp được giới thiệu bởi Barney (1991); Peteraf (1993); Sanchez và Heene (1996, 2004) và Wernerfelt (1984) tập trung vào tầm quan trọng của năng lực, tài sản và nguồn lực đến sự sống còn, tăng trưởng, và hiệu quả tổng thể của tổ chức. Chỉ 4 yếu tố này mới tạo ra được lợi thế cạnh tranh hiệu quả giữa các doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên sự kết hợp các nguồn lực thế mạnh của doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Năng lực đã được định nghĩa là “mô hình lặp lại hành động” (Sanchez, Heene và Thomas, 1996) mà một công ty có thể tích hợp, xây dựng, và cơ cấu 14 lại để tạo ra những năng lực cho phép nó để thực hiện các hoạt động gia tăng giá trị.
Năng lực là phương tiện mà các nguồn lực của một công ty được triển khai bởi các nhà quản lý của nó (Sanchez và cộng sự, 1996). CBV đã được xây dựng thành một phương pháp tiếp cận với 4 khía cạnh bao gồm: năng động, hệ thống, nhận thức, và toàn diện để quản lý chiến lược (Sanchez và Heene, 1996; Sanchez và Heene, 2014; Freiling và cộng sự, 2008). Hubbard và cộng sự (2008) cho rằng trong lý thuyết CBV có hai loại năng lực: (1) năng lực “thông thường” được sử dụng trong hoạt động hàng ngày của một công ty và (2) năng lực động cho phép biến đổi năng lực “thông thường” trong một công ty. Những khác biệt về khái niệm cơ bản trong các cơ sở của lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực và lý thuyết cạnh tranh dựa trên năng lực được Sanchez (2008) tóm tắt như sau: Lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên nguồn lực giả định: Công ty thành công = Bền vững từ lợi thế so sánh (Ricardian) Công ty thành công = f (các nguồn lực) Lý thuyết năng lực cạnh tranh dựa trên năng lực giả định: Công ty thành công = Mức độ đạt được thỏa mãn liên tục những mục tiêu của công ty Công ty thành công = f (các nguồn lực, các khả năng, quá trình quản trị, chiến lược phù hợp) Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố năng lực cạnh tranh đã dựa vào lý thuyết cạnh tranh dựa trên nguồn lực và năng lực của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh tốt sẽ quan tâm đến các nền tảng sẵn có tạo nên lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn phải xác định, phát triển các nền tảng sẵn có bên trong nhằm tạo ra nền tảng vững chắc để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. (3) Tiếp cận từ chuỗi giá trị (Value chain) Chuỗi giá trị là một tập hợp các hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện để tạo ra giá trị cho khách hàng của mình. Chuỗi giá trị giải thích cách thức công ty tạo ra giá trị và tìm cách để gia tăng giá trị là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển một chiến lược cạnh tranh.