CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI (NHTM) Chương này nhằm trình bày tổng quan về các lý luận cơ bản đề cập đến năng lực cạnh tranh của NHTM và các lý luận về các mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM. Đưa ra một số phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng trong việc phân tích năng lực cạnh tranh: Bao gồm phương pháp phân tích thống kê, phương pháp so sánh, mô hình M.Porter, mô hình CAMEL 1.1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu năng lực cạnh tranh hay lợi thế cạnh tranh song cho đến nay, khó có thể đưa ra một định nghĩa chuẩn về khái niệm năng lực cạnh tranh đúng cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, đối với từng đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu cần phải đưa ra một định nghĩa về năng lực cạnh tranh (bao gồm cả vị thế cạnh tranh hiện tại lẫn khả năng duy trì, và phát triển vị thế đó trong tương lai) của một quốc gia, một ngành, một doanh nghiệp một cách chính xác làm căn cứ khoa học cho việc đưa ra những chính sách, những giải pháp hợp lý và hiệu quả.
Đối với lĩnh vực ngân hàng, tài chính, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại có thể hiểu như sau: Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là sự tổng hợp tất cả các khả năng của ngân hàng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao, đa dạng và phong phú, tiện ích và thuận lợi, có tính độc đáo so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường tạo ra lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận hàng năm của các ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế cao trên thị trường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Nhìn chung, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại đều được xem xét thông qua khả năng tạo và duy trì lợi nhuận, thị phần nhất định trên thị trường. Mỗi ngân hàng thương mại phải duy trì được các lợi thế cạnh tranh của mình với các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm thỏa mản tốt nhất các yêu cầu của khách hàng và giành lợi thế trong quá trình cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại thể hiện thành các lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác nhưng các lợi thế đó không phải là bất biến.
Điều đó phụ thuộc vào mỗi ngân hàng trong việc thường xuyên duy trì và tăng cường năng lực cạnh tranh. Có những ngân hàng thương mại gần như không có lợi thế hoặc lợi thế chỉ ở dạng tiềm năng, nhưng do biết cách khái thác và sử dụng một cách hiệu quả và hợp lý các lợi thế tiềm năng đó đã nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng bao hàm cả việc các ngân hàng phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Nói cách khác, ngân hàng phải liên tục duy trì lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường.
Việc hạ thấp giá thành dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh theo quan niệm mang tính dài hạn không bao gồm việc hạ giá thành bằng những biện pháp tiêu cực như: cắt giảm lương nhân viên, cắt giảm các chi phí phúc lợi, giảm chi phí môi trường…năng lực cạnh tranh ở đây phải gắn liền với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội.2 Đặc trưng về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các NHTM trong kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên so với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc trưng nhất định. Một là, các đối thủ cạnh tranh trong sự ganh đua nhưng cũng có sự hợp tác với nhau trong một số lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm. Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh xảy ra rủi ro hệ thống.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và thường xuyên của Ngân hàng trung ương (NHTW) của mỗi quốc gia hoặc khu vực. Bốn là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ tầng cơ sở… Năm là, cạnh tranh ngân hàng nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên của thị trường tài chính quốc tế.3 Sự khác nhau giữa cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng và Doanh nghiệp khác. Do đối tượng kinh doanh chủ yếu là các dịch vụ tài chính, liên quan đến tiền là hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống, hơn nữa các hoạt động ngân hàng có tính liên kết chặt chẽ dẫn đến cạnh tranh trong hoạt động NH có một số điểm khác biệt so với cạnh tranh trong các lĩnh vực khác. Đó là: Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trong điều kiện chịu sự chi phối mạnh mẽ của các chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước, chịu sự tác động không chỉ của các biến động kinh tế vĩ mô như lạm phát, lãi suất, tăng trưởng kinh tế.
Sự lớn mạnh của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động NH không đồng nghĩa với nhất thiết triệt hạ đối thủ mà thậm chí sự lớn mạnh của đối thủ lại là điều kiện để cho hệ thống NH phát triển. Ví dụ: sự phát triển của các tổ chức bảo hiểm sẽ tạo ra nguồn tiền gửi quan trọng cho các NH. Sự phá sản của một NH dẫn đến hiệu ứng lan truyền và tai họa cho nền kinh tế, thậm chí cho cả một khu vực (khủng hoảng tiền tệ ở các nước Đông Nam Á năm 1997 và rỏ nhất là cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế thế giới 2008 đã cho thấy điều đó). Do vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng không phải là cuộc chiến một mất một còn giữa các ngân hàng.
Đặc điểm của sản phẩm NH, mà biểu hiện rõ nhất trong thanh toán chẳng hạn, quá trình cung cấp sản phẩm không chỉ cho một ngân hàng thực hiện mà phải thông qua NH khác, do vậy mặc dù cạnh tranh nhưng các NH vẫn phải có sự hợp tác với nhau để hoạt động trong quá trình cung ứng sản phẩm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của NHTM 1.1 Năng lực tài chính Năng lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điềm nhất định. Năng lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu: Chỉ tiêu 1 Vốn chủ sở hữu và mức độ an toàn vốn: Tiềm lực vốn (mức độ an toàn vốn) của ngân hàng thương mại được đánh giá cao hay thấp là phụ thuộc vào quy mô vốn chủ sở hữu và hệ số an toàn vốn. Chỉ tiêu này phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro.
Đây là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định khả năng của một ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn này rất đa dạng tùy theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Chỉ tiêu 2 Chất lượng tài sản có - phản ánh sức khỏe của một ngân hàng: Cơ cấu tài sản có của ngân hàng bao gồm: tiền mặt, tiền gởi, đầu tư trực tiếp, cho vay khách hàng, tài sản cố định, tài sản khác. Tuy nhiên, do đặc thù của ngành ngân hàng ở Việt Nam thì chất lượng dư nợ cho vay là đáng quan tâm nhất.
Chỉ tiêu 3 Khả năng thanh khoản: Tỷ lệ giữa tài sản Có có thể thanh toán ngay/Tỷ lệ tài sản Nợ phải thanh toán ngay; chỉ tiêu định tính thể hiện qua năng lực quản lý thanh khoản của NHTM, đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của NHTM. Chỉ tiêu 4 Khả năng sinh lời: phản ánh kết quả họat động kinh doanh của ngân hàng. Một NHTM làm kinh doanh tốt, khả năng sinh lời cao sẽ có điều kiện trích lập các quỹ dự trữ, đầu tư mở rộng mạng lưới giao dịch, đầu tư công nghệ, khách hàng cảm thấy yên tâm tin tưởng và gởi tiền, do đó nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Đánh giá mức sinh lợi của một ngân hàng thông qua các chỉ tiêu như giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE (return on equity), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản có ROA (return on asset)… 1.2 Năng lực họat động Khả năng huy động vốn: Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng của các NHTM, quyết định quy mô kinh doanh.
Ngân hàng nào có khả năng huy động vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 lớn thì có triển vọng mở rộng thị phần tín dụng, đầu tư và dịch vụ khác nhằm tăng lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Khả năng huy động vốn của ngân hàng được đánh giá thông qua một số tiêu chí như: thị phần huy động vốn, mức tăng trưởng huy động vốn, lãi suất huy động cạnh tranh, sự đa dạng hóa về kỳ hạn gửi, sự thuận tiên khi giao dịch, các chương trình marketing hiệu quả… Hoạt động tín dụng đầu tư: Hoạt động tín dụng và đầu tư là họat động kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Hoạt động tín dụng và đầu tư của NHTM sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng, phát triển khả năng huy động vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Phát triển sản phẩm dịch vụ khác: Mỗi ngân hàng đều có mục tiêu phát triển hoạt động, dịch vụ riêng để tạo cho mình một thế mạnh về một sản phẩm hoặc dịch vụ đó.
Khi nền kinh tế càng phát triển thì các dịch vụ ngân hàng cũng phát triển theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng.