Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh hoạt động gia công xuất khẩu Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh hoạt động gia công xuất khẩu của Công ty TNHH Dệt May Xuất Khẩu An Phú Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh hoạt động gia công xuất khẩu của Công ty TNHH Dệt May Xuất Khẩu An Phú 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH HOẠT ĐỘNG GIA CÔNG XUẤT KHẨU 2. Cơ sở lý luận về gia công xuất khẩu 2. Khái niệm về gia công xuất khẩu Tại điều 178 Luật thương mại 2005 quy định “Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao.” Gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất hàng gia công khá phổ biến ở nhiều quốc gia, hiện nay xuất khẩu hàng gia công khá phổ biến. Việc xuất khẩu hàng gia công được hiểu là bên đặt hàng gia công ở nước ngoài sẽ cung cấp cho nước nhận hàng gia công những máy móc, thiết bị và nguyên liệu cần thiết để thực hiện hoạt động gia công hàng hóa theo yêu cầu.
Hoặc cũng có thể bán thành phẩm theo mẫu hoặc định mức cho phép. Bên nhận gia công sẽ tổ chức thực hiện mọi yêu cầu của khách hàng. Theo thông tư bộ luật của nước ta đã có ban hành số 14/KHTĐ - TM ngày 25 tháng 9 năm 1996 thì việc gia công xuất khẩu được định nghĩa như sau: Gia công hàng hóa xuất khẩu là các hoạt động, sản xuất, lắp ráp, chế biến, sản xuất, lắp ráp, đóng gói… Nhằm chuyển hóa nguyên liệu, phụ liệu thành phẩm bán hàng, do bên gia công đặt cung cấp thành sản phẩm hoặc bán thành phần của bên yêu cầu đặt gia công. Hợp đồng gia công hàng xuất khẩu là sự thỏa thuận giữa hai bên đặt hàng gia công và nhận gia công hàng; trong đó, bên đặt gia công là một cá nhân hay một tổ chức kinh doanh ở nước ngoài, còn bên nhận gia công Việt Nam được hiểu là thương nhân Việt Nam thuộc các thành phần kinh tế được phép nhận gia công cho các thương nhân nước ngoài, không hạn chế số lượng, chủng loại hàng gia công.
Đối với hàng gia công thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu và tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu, thương nhân chỉ được ký hợp đồng sau khi có sự chấp nhận bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền. Các hình thức gia công xuất khẩu Có nhiều tiêu thức để phân loại gia công quốc tế như phân loại theo quyền sở hữu nguyên vật liệu trong quá trình gia công, phân loại theo giá cả gia công hoặc phân loại theo công đoạn sản xuất. Xét về quyền sở hữu nguyên liệu a) Phương thức nhận nguyên vật liệu, giao thành phẩm Đây là phương thức sơ khai của hoạt động gia công xuất khẩu. Trong phương thức này, bên đặt gia công giáo cho bên nhận gia công nguyên vật liệu, có khi cả các thiết bị máy móc kỹ thuật phục vụ cho quá trình gia công.
Bên nhận gia công tiến hành sản xuất gia công theo yêu cầu và giao thành phẩm, nhận phí gia công. Trong quá trình sản xuất gia công, không có sự chuyển đối quyền sở hữu về nguyên vật liệu. Tức là bên đặt gia công vẫn có quyền sở hữu về nguyên vật liệu của mình. Ở nước ta, hầu hết là đang áp dụng phương thức này.
Do trình độ kỹ thuật máy móc trang thiết bị của ta còn lạc hậu, chưa đủ điều kiện để cung cấp nguyên vật liệu, thiết kế mẫu mã nên việc phụ thuộc vào nước ngoài là điều không thể tránh khỏi trong những bước đi đầu tiên của gia công xuất khẩu. Phương thức này có kiểu dạng một vài điểm trong thực tế. Đó là bên đặt gia công có thể chỉ giao một phần nguyên liệu còn lại họ giao cho phía nhận gia công tự đặt mua tại các nhà cung cấp mà họ đã chỉ định sẵn trong hợp đồng. b) Phương thức mua đứt, bán đoạn.
Đây là hình thức phát triển của phương thức gia công xuất khẩu nhận nguyên liệu và giao thành phẩm. Ở phương thức này, bên đặt gia công dựa trên hợp đồng mua bán, bán đứt nguyên vật liệu cho bên nhận gia công với điều kiện sau khi sản xuất bên nhận gia công phải bán lại toàn bộ sản phẩm cho bên đặt gia công. Như vậy, ở phương thức này có sự chuyển giao quyền sở hữu về nguyên vật liệu từ phía đặt gia công sang phía nhận gia công. Sự chuyển đổi này làm tăng quyền chủ động cho phía nhận gia công trong quá trình sản xuất và định giá sản phẩm gia công.
Ngoài ra, việc tự cung cấp một phần nguyên liệu phụ của bên nhận gia công đã làm tăng giá trị xuất khẩu trong hàng hoá xuất khẩu, nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động gia công. 8 c) Phương thức kết hợp. Đây là phương thức phát triển cao nhất của hoạt động gia công xuất khẩu được áp dụng khi trình độ kỹ thuật, thiết kế mẫu mã của ta đã phát triển cao. Khi đó bên đặt gia công chỉ giao mẫu mã và các thông số kỹ thuật của sản phẩm.
Còn bên nhận gia công tự lo nguyên vật liệu, tự tổ chức quá trình sản xuất gia công theo yêu cầu của bên đặt gia công. Trong phương thức này, bên nhận gia công hầu như chủ động hoàn toàn trong quá trình gia công sản phẩm, phát huy được lợi thế về nhân công cũng như công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu trong nước. Phương thức này là tiền đề cho công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phát triển. Xét về mặt giá cả gia công a) Hợp đồng thực thi thực thanh Trong phương thức này người ta quy định bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế của mình cộng với tiền thù lao gia công.
Đây là phương thức gia công mà người nhận gia công được quyền chủ động trong việc tím các nhà cung cấp nguyên phụ liệu cho mình. b) Hợp đồng khoán Trong phương thức này, người ta xác định một giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Dù chi phí thực tế của bên nhận gia công là bao nhiêu đi nữa, hai bên vẫn thanh toán với nhau theo giá định mức đó. Đây là phương thức gia công mà bên nhận phải tính toán một cách chi tiết các chi phí sản xuất về nguyên phụ liệu nếu không sẽ dẫn đến thua thiệt.
Xét về số bên tham gia quan hệ gia công a) Gia công hai bên Trong phương thức này, hoạt động gia công chỉ bao gồm bên đặt gia công và bên nhận gia công. Mọi công việc liên quan đến hoạt động sản xuất đều do một nhận gia công làm còn bên đặt gia công có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ phí gia công cho bên nhận gia công. b) Gia công nhiều bên Phương thức này còn gọi là gia công chuyển tiếp, trong đó bên nhận gia công là một số doanh nghiệp mà sản phẩm gia công của đơn vị trước là đối tượng gia công của đơn vị sau, còn bên đặt gia công vẫn chỉ là một. Phương thức này chỉ thích hợp 9 với trường hợp gia công mà sản phẩm gia công phải sản xuất qua nhiều công đoạn.
Đây là phương thức gia công tương đối phức tạp mà các bên nhận gia công cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau thì mới bảo đảm được tiến độ mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng gia công. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của hoạt động gia công xuất khẩu 2. Khái niệm chung về năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, cạnh tranh là cuộc ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành điều kiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. thị trường một cách có lợi nhất. Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ vô cùng phong phú và đa dạng. Đặc biệt, trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, công nghệ ngày càng phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ngày càng trở nên thửa, nhu cầu của con người ngày một cao hơn thì việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ ngày càng trở nên khó khăn hơn.
Hàng hoá, dịch vụ chỉ được tiêu thụ khi nó thực sự nổi bật hơn các hàng hóa và dịch vụ khác, sự nổi bật ấy tạo nên khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh giành quyền tiêu thụ.2 Phân loại năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao hơn. Như vậy để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải đánh giá theo năng lực cạnh tranh marketing và năng lực cạnh tranh phi marketing Theo Michael Porter (trong cuốn sách "Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance" xuất bản năm 1985), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gồm 4 yếu tố: 10 • Các yếu tố bản thân doanh nghiệp: Bao gồm các yếu tố về con người (chất lượng, kỹ năng), các yếu tố về trình độ (khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thị trường); các yếu tố về vốn, các yếu tố môi trường tự nhiên, địa lý… • Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng • Sự phát triển các lĩnh vực có liên quan và phụ trợ cho doanh nghiệp như: thị trường tài chính, sự phát triển của công nghệ thông tin… • Chiến lược của doanh nghiệp, vị thể của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động gia công xuất khẩu 2. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày cũng cao hơn.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp.