CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THOẢ ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ 1. Một số vấn đề lý luận về thoả ước lao động tập thể 1. Khái niệm về thoả ước lao động tập thể 1. Định nghĩa về thoả ước lao động tập thể Quan hệ lao động được hình thành trên cơ sở sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ.
Mặc dù mang bản chất của quan hệ dân sự, tuy nhiên, xuất phát từ địa vị kinh tế - xã hội khác nhau mà NLĐ luôn ở vị thế yếu, do vậy, họ phải liên kết lại, hình thành nên các tổ chức, đại diện cho tập thể NLĐ để tạo áp lực, cân bằng phần nào sự bất bình đẳng trong mối quan hệ với NSDLĐ. Một trong những hoạt động quan trọng, gắn liền với vai trò của tổ chức đại diện NLĐ là TLTT với mục đích cuối cùng là ký kết TƯLĐTT để đưa ra những điều kiện làm việc với lợi ích tốt hơn cho NLĐ. Trên thế giới, những bản TƯLĐTT đầu tiên được ký kết vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khi nền kinh tế tư bản phát triển mạnh mẽ ở một số nước và khu vực như Anh, Mỹ, Đức, các nước khối Nordic1 nhằm dung hoà vị thế bất bình đẳng giữa NLĐ và NSDLĐ trong phân phối thu nhập và lợi ích, từ đó, giúp phòng ngừa, giải quyết những xung đột, mâu thuẫn phát sinh trong QHLĐ, đảm bảo sự bình ổn của hoạt động lao động, sản xuất, cũng như đảm bảo tính ổn định của nền kinh tế - xã hội nói chung. Đến đầu thế kỷ XX, các nước phát triển trên thế giới đã luật hoá việc ký kết và thực hiện TƯLĐTT như ở Đức (năm 1921) và ở Nga (năm 1922)2.
Thương lượng và ký kết TƯLĐTT 1 Hoàng Thị Minh (2011), “Thoả ước lao động tập thể, nghiên cứu so sánh giữa pháp luật lao động Việt Nam và Thuỵ Điển”, Luận án tiến sỹ, Trườngng Đại học Luật Hà Nội, tr. 2 Trường đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình Luật lao động Việt Nam”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2018, trang 275. 11 được xem như một công cụ hữu hiệu nhất để hài hoà mối quan hệ bất bình đẳng giữa NLĐ và NSDLĐ. Cũng chính bởi vậy mà tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản về quyền tự do liên kết và TƯLĐTT 3 là một trong những tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản xuất hiện sớm nhất.
Theo đó, nhằm hướng tới mục tiêu xúc tiến quyền của các bên tại nơi làm việc, khuyến khích các cơ hội về việc làm bền vững, Điều 4 Công ước số 98 năm 1949 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và TLTT của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định: Mỗi quốc gia thành viên phải có những biện pháp phù hợp với điều kiện quốc gia để khuyến khích, xúc tiến việc xây dựng và tận dụng đầy đủ các thể thức thương lượng tự nguyện giữa một bên là NSDLĐ và tổ chức của NSDLĐ với một bên là các tổ chức của NLĐ nhằm quy định những điều khoản và điều kiện về sử dụng lao động bằng TƯLĐTT. Tiếp đó, ILO cũng đã ban hành Công ước số 154 năm 1981 về xúc tiến TLTT, Khuyến nghị số 91 ngày 19/6/1951 về TƯLĐTT và Khuyến nghị số 163 ngày 19/6/1981 về xúc tiến TLTT. Theo quan điểm của ILO: “Thoả ước lao động tập thể có nghĩa là tất cả mọi thoả thuận bằng văn bản liên quan đến điều kiện làm việc và các điều khoản việc làm, thoả thuận giữa một bên là một người sử dụng lao động, một nhóm các người sử dụng lao động, một hoặc nhiều hơn tổ chức của người sử dụng lao động với một bên là một hoặc nhiều tổ chức của người lao động, hoặc khi không có tổ chức đó, đại diện của người lao động được người lao động bầu và uỷ nhiệm theo luật và quy định quốc gia”4. Xuất phát từ nguồn gốc, lịch sử hình thành cũng như vai trò của TƯLĐTT trong duy trì mối QHLĐ hài hoà, ổn định, tiến bộ, quan niệm của các nước trên thế giới và quan điểm của ILO về TƯLĐTT về cơ bản có sự đồng nhất.
Theo 3 Công ước số 87 năm 1948 về Tự do liên kết và bảo vệ quyền tổ chức; Công ước số 98 năm 1949 về Quyền tổ chức và thương lượng tập thể.2 Khuyến nghị số 91 năm 1951 về thoả ước tập thể. 12 đó, TƯLĐTT được hiểu là văn bản thoả thuận được ký kết giữa một bên là NSDLĐ (hoặc tổ chức giới chủ) với một bên là công đoàn (hoặc một số tổ chức công đoàn hoặc đại diện hợp pháp của NLĐ) nhằm quy định các điều kiện lao động cũng như một hệ thống các quy tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa NSDLĐ và tập thể NLĐ (mà thông thường được đại diện bằng tổ chức công đoàn). Theo quan niệm của ILO, xuất phát từ các cấp TLTT mà TƯLĐTT có 04 loại tương ứng với từng cấp độ, bao gồm: TƯLĐTT doanh nghiệp, TƯLĐTT khu vực hoặc vùng lãnh thổ, TƯLĐTT ngành, TƯLĐTT liên ngành. Các loại TƯLĐTT có thể được minh hoạ theo sơ đồ sau: Thoả ước liên ngành nghề cấp quốc gia bao phủ tất cả người lao động Thoả ước toàn ngành/nhánh ngành hoặc nghề Thoả ước khu vực hoặc vùng lãnh thổ cho nhánh ngành hoặc nghề Thoả ước tập thể cho một doanh nghiệp cơ sở Trong các loại TƯLĐTT, TƯLĐTT doanh nghiệp là loại thoả ước phổ biến nhất bởi phạm vi tác động hẹp và quy trình thực hiện đơn giản hơn cả so với các loại còn lại, tuy nhiên, lại tạo ra nhiều sự khác nhau về điều kiện làm việc cho một công việc có giá trị như nhau trong cùng một ngành nghề.
TƯLĐTT liên ngành nghề cấp quốc gia bao phủ tất cả NLĐ là thoả ước ở cấp độ cao nhất, tạo ra điều kiện làm việc bình đẳng cho tất cả NLĐ trên phạm vi toàn quốc và được coi là “thoả ước khung” cho các loại thoả ước khác. Tuy nhiên, loại thoả ước này chỉ xuất hiện ở các nước phát triển, được đặc trưng bởi 13 hệ thống các tổ chức thương lượng có nhiều bên giới chủ tham gia ở cấp ngành hoặc liên ngành và một tỷ lệ lao động cao được áp dụng TƯLĐTT như ở các quốc gia là thành viên cũ của EU5. Ở các nước ngoài khu vực Châu Âu như Mỹ, Nhật và hầu hết các nước đang phát triển, loại thoả ước này không thực sự phổ biến. TƯLĐTT ngành là loại thoả ước ở cấp độ thấp hơn cấp liên ngành, là kết quả của TLTT được tiến hành giữa một bên là công đoàn ngành (đại diện cho NLĐ trong toàn ngành) với một bên là đại diện NSDLĐ ở cấp ngành.
Đây được xem là TƯLĐTT ở cấp độ cao để dung hoà sự khác nhau về điều kiện làm việc của NLĐ tại các doanh nghiệp trong cùng một ngành. TƯLĐTT ngành là loại TƯLĐTT phổ biến ở các nước có cơ cấu NLĐ và NSDLĐ tổ chức theo ngành như ở các nước Tây Âu (Đức, Ý, Pháp, Bỉ,…), Đan Mạch, Newzeland… hoặc thường được ký kết trong một số ngành trọng điểm các nước tại Mỹ, Hàn Quốc Nhật Bản, Việt Nam,… Theo Khuyến nghị số 91 năm 1951 của ILO thì: “Thỏa ước tập thể được hiểu là mọi thỏa thuận bằng văn bản về những điều kiện lao động và sử dụng lao động, được ký kết giữa một bên là một người sử dụng lao động, một nhóm người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của những người sử dụng lao động, với một bên là một hoặc nhiều tổ chức đại diện của những người lao động, hoặc nếu không có các tổ chức đó, thì đó là các đại diện của những người lao động hữu quan được họ bầu ra và ủy quyền đúng mức theo pháp luật quốc gia”. Theo pháp luật Liên bang Nga: “Thoả ước là văn bản pháp lý quy định những nguyên tắc chung điều chỉnh các quan hệ lao động - xã hội và các quan hệ kinh tế liên quan đến quan hệ lao động - xã hội, được ký kết giữa những đại diện được uỷ quyền của người lao động và người sử dụng lao động ở cấp liên 5 Hoàng Thị Minh (2011), Luận án tiến sỹ “Thoả ước lao động tập thể, nghiên cứu so sánh giữa pháp luật lao động Việt Nam và Thuỵ Sỹ” (Mục 2.1) 14 bang, khu vực, ngành (liên ngành) và lãnh thổ trong giới hạn thẩm quyền các cấp”6. Luật nhân lực năm 2003 của Indonexia khoản 21, Điều 1 quy định: “Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận những kết quả đạt được qua các lần thương lượng giữa một bên là tổ chức công đoàn/nghiệp đoàn lao động hoặc một số nghiệp đoàn lao động đã đăng ký tại một cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề nhân lực với một bên là một doanh nhân hoặc một số doanh nhân hoặc một hiệp hội của các doanh nhân, quy định cụ thể về yêu cầu công việc, quyền và nghĩa vụ của các bên”7 Tại Việt Nam, BLLĐ năm 2019 quy định: “Thoả ước lao động tập thể là thoả thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và được các bên ký kết bằng văn bản.
Thoả ước lao động tập thể bao gồm thoả ước lao động tập thể doanh nghiệp, thoả ước lao động tập thể ngành, thoả ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp và các thoả ước lao động tập thể khác” 8. Xuất phát từ định nghĩa về TƯLĐTT nói chung, các cấp độ thương lượng, ký kết TƯLĐTT theo quan điểm của ILO cũng như thực tiễn quy định của các nước trên thế giới về TƯLĐTT, tác giả xin đưa ra định nghĩa về TƯLĐTT như sau: “Thoả ước lao động tập thể là văn bản thoả thuận giữa một bên là đại diện người lao động với một bên là đại diện người sử dụng lao động về các điều kiện làm việc mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể”. Bản chất của thoả ước lao động tập thể Thoả ước lao động tập thể có bản chất pháp lý song phương, vừa thể hiện ý chí của các bên trong duy trì mối QHLĐ ổn định, bảo đảm phù hợp với đặc 6 Điều 45 Bộ luật lao động Liên bang Nga năm 2002. 7 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Pháp luật lao động các nước ASEAN, NXB Lao động – Xã hội, năm 2011, trang 143.
8 Khoản 1 Điều 75 Bộ luật Lao động năm 2019. 15 điểm, điều kiện riêng của từng doanh nghiệp, từng ngành, vừa mang tính chất quy phạm, bảo đảm thực thi có hiệu quả những thoả thuận mà hai bên đã đạt được, cụ thể như sau: Thứ nhất, thoả ước lao động tập thể mang tính hợp đồng.